Để du lịch Việt hướng đến phát triển bền vững
Nếu muốn nâng tầm vị thế cạnh tranh và tránh hệ lụy từ việc phát triển nóng, du lịch Việt Nam buộc phải bước vào một cuộc chuyển đổi cấu trúc sâu rộng, chấm dứt việc chạy đua về số lượng hay tăng trưởng ngắn hạn.

Việt Nam có lợi thế lớn để phát triển du lịch nhờ vị trí địa lý, di sản văn hóa phong phú, ẩm thực đa dạng, cảnh quan đẹp và con người hiếu khách - Ảnh minh họa
Tiến sát các mục tiêu tăng trưởng
Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu vẫn nhiều biến động, xung đột địa chính trị chưa chấm dứt và xu hướng du lịch liên tục thay đổi, 6 tháng đầu năm, Việt Nam vẫn đón gần 12,3 triệu lượt khách quốc tế, phục vụ khoảng 81 triệu lượt khách nội địa.
Theo số liệu sơ kết của Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam, ngành đã hoàn thành khoảng 48,8% mục tiêu đón 25 triệu lượt khách quốc tế, 54% kế hoạch lượt phục vụ khách nội địa, tổng thu từ khách du lịch ước đạt khoảng 569 nghìn tỉ đồng, tương đương 50,5% mục tiêu cả năm.
Những kết quả này phản ánh hiệu quả của hàng loạt giải pháp được triển khai trong thời gian qua, từ kích cầu, xúc tiến quảng bá, mở rộng hợp tác quốc tế đến đa dạng hóa sản phẩm du lịch. Đây là nền tảng để ngành phấn đấu hoàn thành mục tiêu đón 25 triệu lượt khách quốc tế trong năm 2026.
Fortune phân tích Việt Nam có lợi thế lớn nhờ vị trí địa lý, di sản văn hóa phong phú, ẩm thực đa dạng, cảnh quan đẹp và con người hiếu khách. Đây là những yếu tố giúp quốc gia gia tăng sức cạnh tranh trong khu vực.
Ông CS Soong, Phó chủ tịch phát triển doanh nghiệp của Klook, cho biết du khách ngày càng tìm kiếm những điểm đến giàu thiên nhiên và văn hóa, nằm ngoài các thành phố lớn. Điều này cho thấy bản đồ du lịch Việt Nam đang mở rộng. Các điểm đến biển đảo, miền núi, nghỉ dưỡng và trải nghiệm bản địa có thêm cơ hội đón khách, thay vì chỉ dựa vào những trung tâm truyền thống.
Bên cạnh lợi thế về cảnh quan, văn hóa, ẩm thực và chi phí cạnh tranh, ông Nguyễn Văn Hiếu, Tổng Giám đốc Vitamintour & Events cho biết, việc mở rộng kết nối hàng không cùng các chính sách tạo thuận lợi cho khách quốc tế đã giúp doanh nghiệp du lịch dễ dàng xây dựng các sản phẩm phù hợp với từng thị trường.
Hiện Trung Quốc và Hàn Quốc là hai thị trường gửi khách lớn nhất của Việt Nam nhờ khoảng cách địa lý gần, mạng lưới đường bay dày đặc, thời gian di chuyển ngắn và nhu cầu du lịch nước ngoài ngày càng tăng. Thị trường Nga và Ấn độ tăng trưởng đột biến nhờ đường bay thuận lợi và xu hướng tìm kiếm các điểm đến nghỉ dưỡng thân thiện, chi phí hợp lý.
Song, ông Nguyễn Công Hoan, Tổng Giám đốc Flamingo Redtours cũng thắng thắn nhìn nhận, vấn đề lớn nhất của du lịch Việt Nam hiện nay không phải là thiếu khách mà là thiếu những sản phẩm đủ hấp dẫn để giữ chân khách lâu hơn và khiến họ chi tiêu nhiều hơn. Nhiều điểm đến đang phát triển theo phong trào. Khi một mô hình thành công, các địa phương khác nhanh chóng làm theo dẫn đến sự trùng lặp trong trải nghiệm. Điều này khiến du khách khó cảm nhận sự khác biệt giữa các điểm đến.

Cuộc đua của ngành du lịch Việt không chỉ nằm ở số lượng khách mà còn ở khả năng thu hút nhóm du khách chi tiêu cao hơn và lưu trú lâu hơn - Ảnh minh họa
Tránh chạy theo tăng trưởng ngắn hạn
Cùng chung nhận định này, ông Lê Hồng Hiệp, chuyên gia cao cấp tại Viện ISEAS-Yusof Ishak ở Singapore đánh giá, Việt Nam đang cạnh tranh với Thái Lan và Malaysia để trở thành điểm đến hàng đầu khu vực. Tuy nhiên, cuộc đua này không chỉ nằm ở số lượng khách mà còn ở khả năng thu hút nhóm du khách chi tiêu cao hơn và lưu trú lâu hơn. Quan trọng hơn, Việt Nam cần tránh chạy theo tăng trưởng ngắn hạn.
Hiện các doanh nghiệp trong nước đang xây thêm khách sạn tại nhiều thành phố lớn, nhưng vẫn cần hợp tác với các nhà vận hành quốc tế để nâng chuẩn dịch vụ và tăng sức hút với khách nước ngoài. Nếu lượng khách giảm tốc trong tương lai, Việt Nam có thể đối mặt với tình trạng dư thừa khách sạn; sân bay và hạ tầng du lịch chưa được khai thác hết công suất. Đây cũng là bài học từ Thái Lan và Bali (Indonesia). Hai điểm đến này từng hưởng lợi lớn từ làn sóng du lịch quốc tế, nhưng sau đó phải đối mặt với áp lực phát triển quá mức, du lịch quá tải và nguy cơ suy giảm chất lượng trải nghiệm.
Trong khi đó, ông Nguyễn Trùng Khánh, Cục trưởng Cục Du lịch lưu ý, trong giai đoạn phát triển mới, sứ mệnh của du lịch không chỉ là đóng góp vào tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm, quảng bá hình ảnh quốc gia mà còn phải góp phần hiện thực hóa các mục tiêu phát triển bền vững, góp phần xây dựng nền kinh tế xanh, kinh tế số và nâng cao chất lượng cuộc sống người dân.
Muốn “chuyển mình”, các chuyên gia khẳng định toàn ngành cần một tư duy phát triển mới, một hệ sinh thái sáng tạo mạnh mẽ, một nền tảng dữ liệu hiện đại cùng mô hình quản trị thông minh, cam kết mạnh mẽ đối với bảo vệ môi trường, bảo tồn tài nguyên và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc.
Hiện ngành du lịch đang xây dựng, hình thành hệ sinh thái dữ liệu quốc gia theo mô hình “1+34+N”, trong đó nền tảng cốt lõi do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì phát triển và vận hành kết hợp với cơ sở dữ liệu của 34 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các bộ, ngành, doanh nghiệp cùng tham gia kết nối. Mô hình này hướng tới việc hình thành hồ sơ du khách số, nâng cao năng lực dự báo, điều hành và cá nhân hóa dịch vụ theo thời gian thực; phát triển hệ sinh thái du lịch thông minh đồng bộ từ Trung ương đến địa phương; đổi mới công tác xúc tiến quảng bá theo hướng số hóa, ứng dụng trí tuệ nhân tạo để cá nhân hóa thông điệp quảng bá phù hợp với từng thị trường mục tiêu.
TS. Nguyễn Anh Tuấn, Viện trưởng Viện Kinh tế Du lịch, cho rằng Việt Nam cần ưu tiên các loại hình sản phẩm có lợi thế. Mỗi vùng, mỗi địa phương cần có sản phẩm chủ lực, câu chuyện thương hiệu, biểu tượng trải nghiệm và chuỗi dịch vụ đồng bộ. Muốn vậy, phải cải thiện mạnh mẽ kết nối hàng không, đường bộ, đường sắt, đường thủy; nâng cao chất lượng dịch vụ cửa khẩu, thị thực, thông tin hỗ trợ du khách.
Bên cạnh đó, du lịch sẽ không phát triển theo ranh giới hành chính mà theo không gian trải nghiệm của du khách. Vì vậy, cần thúc đẩy các hành lang du lịch, tuyến du lịch liên vùng, sản phẩm liên tỉnh, kết nối giữa đô thị - nông thôn - biển đảo - miền núi - di sản; đồng thời liên kết du lịch với nông nghiệp, công nghiệp văn hóa, thương mại, giao thông, môi trường, y tế, giáo dục, thể thao và kinh tế đêm…
“Du lịch Việt Nam đứng trước thời cơ lớn để nâng tầm vị thế trên bản đồ du lịch thế giới. Nhưng thời cơ chỉ trở thành hiện thực nếu ngành đủ bản lĩnh đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng, phát triển xanh, chuyển đổi số, chuyên nghiệp hóa nguồn nhân lực, tăng cường liên kết và đặt trải nghiệm du khách làm trung tâm”, TS. Nguyễn Anh Tuấn khẳng định.
Nguồn TBNH: https://thoibaonganhang.vn/de-du-lich-viet-huong-den-phat-trien-ben-vung-184575.html












