Để luật về phá sản không bị phá sản

Luật Phục hồi, phá sản có hiệu lực vào ngày 1-3-2026 mang đến rất nhiều kỳ vọng về việc giải quyết tình trạng phá sản của doanh nghiệp. Thời điểm này các cơ quan có thẩm quyền đang trong giai đoạn chạy nước rút để hoàn thiện các văn bản hướng dẫn thi hành luật.

Trong quá trình hành nghề, tác giả phát hiện có một “động tác kỹ thuật” có thể khiến cho luật về phá sản bị “phá sản”, tức là luật không thể áp dụng được trên thực tế, bất kể con nợ có bị mất khả năng thanh toán hay không.

Với mong muốn góp thêm một tiếng nói từ thực tiễn, cách tiếp cận của bài viết dựa trên các bản án liên quan đến các vụ phá sản đã được xử lý trên thực tế, từ đó gợi ý cách lựa chọn phù hợp để luật này có thể đi vào cuộc sống.

Vấn đề

“Mất khả năng thanh toán” là khái niệm quan trọng nhất của Luật Phục hồi, phá sản 2025. Nó sẽ là cơ sở để tòa án chấp nhận hoặc trả lại đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản(1), thậm chí là cơ sở của việc tòa ra quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản(2). Theo đó, “Doanh nghiệp mất khả năng thanh toán là doanh nghiệp không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ sau thời hạn 06 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán”(3). Nhìn từ khía cạnh thực tiễn, thuật ngữ mất khả năng thanh toán có thể hiểu theo nhiều cách, qua đó khiến cho Luật Phục hồi, phá sản có thể bị vô hiệu hóa trên thực tế.

Hãy bắt đầu bằng ví dụ sau đây: Công ty A nợ Công ty B 100 tỉ đồng. Hạn thanh toán là ngày 1-2-2026.

Nếu A không thanh toán thì từ ngày 2-8-2026 A sẽ bị coi là mất khả năng thanh toán. Giả sử nếu A thanh toán cho B hai lần, mỗi lần 10 triệu đồng vào các ngày 1-5 và 1-8-2026 thì có coi là A bị mất khả năng thanh toán hay không?

Hai cách hiểu

Cách thứ nhất: Bản chất của hiện tượng mất khả năng thanh toán chính là việc doanh nghiệp vi phạm nghĩa vụ. Theo đó “Vi phạm nghĩa vụ là việc bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng nội dung của nghĩa vụ”(4). Cho nên, việc doanh nghiệp nợ 100 tỉ đồng, nhưng thanh toán định kì 10 triệu đồng, điều đó không thay đổi bản chất của việc vi phạm, không đáp ứng được lợi ích chính đáng của bên có quyền. Do đó, có cơ sở để coi doanh nghiệp A đang bị mất khả năng thanh toán.

Nhìn từ khía cạnh thực tiễn, thuật ngữ mất khả năng thanh toán có thể hiểu theo nhiều cách, qua đó khiến cho Luật Phục hồi, phá sản có thể bị vô hiệu hóa trên thực tế.

Cách thứ hai: Dựa trên câu chữ của luật, ta thấy không thực hiện và thực hiện không đầy đủ là hai khái niệm khác nhau. Không thực hiện được hiểu là không trả một đồng nào. Cho nên, khi A trả hai lần, mỗi lần 10 triệu, thì họ không bị coi là mất khả năng thanh toán. Theo đó, vào ngày 2-8-2026, B chưa có quyền nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản với A.

Giờ hãy nói về một doanh nghiệp có khoản nợ thông thường và một doanh nghiệp bị mất khả năng thanh toán. Doanh nghiệp có khoản nợ thông thường là doanh nghiệp có khoản nợ nhưng họ không muốn hoặc trì hoãn trả. Trong khi đó, doanh nghiệp bị mất khả năng thanh toán là doanh nghiệp không thể trả được khoản nợ, dù muốn hay không muốn. Việc xác định tính chất không thể trả nợ này dựa trên tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp. Điểm thú vị là việc mất khả năng thanh toán này, khi áp vào các chủ thể khác nhau thì tiêu chí đánh giá sẽ rất khác nhau. Hãy cùng xem xét:

Nếu bản thân doanh nghiệp nói rằng “chúng tôi bị mất khả năng thanh toán”, có nghĩa họ phải chứng minh câu nói này bằng cách xuất trình báo cáo tài chính, trong đó phải thể hiện là tổng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp < tổng khoản nợ ngắn hạn. Hồ sơ yêu cầu người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, khi nộp yêu cầu áp dụng thủ tục phục hồi hoặc thủ tục phá sản, bắt buộc phải có báo cáo tài chính là vì lẽ như vậy.

Nhưng nếu một chủ nợ nói “con nợ của chúng ta bị mất khả năng thanh toán” thì họ chỉ dựa vào một dấu hiệu duy nhất là con nợ (Công ty A) đã quá hạn thanh toán quá sáu tháng. Chủ nợ là người ngoài nên họ không thể có số liệu về tài sản và nợ của con nợ. Cho nên từ khía cạnh hồ sơ, họ không cần xuất trình báo cáo tài chính, mà chỉ cần chứng minh họ có một khoản nợ bị quá hạn thanh toán quá sáu tháng.

Câu chữ hay bản chất?

Chủ đề chúng ta đang bàn thật ra là nhằm giải quyết việc một doanh nghiệp bị mất khả năng thanh toán. Nhưng quá trình ghi nhận tình trạng này thành ngôn ngữ pháp lý, thuật ngữ được ban soạn thảo lựa chọn chưa tối ưu khiến cho phạm vi của thuật ngữ hẹp hơn rất nhiều so với bản chất ban đầu mà luật (nên) hướng tới.

Giữa năm 2025 Tòa án nhân dân thành phố H đã từ chối mở thủ tục phá sản với lập luận như sau:

Xét thấy: Công ty X đã thanh toán một phần khoản nợ vào tháng 5-2024; 9-2024, 12-2024, 2-2025; 5-2025 mỗi lần 50 triệu đồng (tổng cộng là 250 triệu đồng) cho Công ty Y. Do đó, khoản nợ của Công ty X phải trả cho Công ty Y chưa được coi là khoản nợ đến hạn thanh toán và mất khả năng thanh toán.

Rõ ràng nhìn tình huống này ta thấy cách xử lý của công ty X là rất khôn khéo. Họ trả một phần khoản nợ, trong một số lần. Một động tác mang tính rất kỹ thuật, nhưng luật không cấm và cũng không dự trù cho việc thanh toán kiểu này!

Tình huống này chắc chắn sẽ còn lặp lại đối với Luật Phục hồi, phá sản 2025. Dựa trên hiện trạng của luật, mặc dù không muốn, nhưng về mặt logic tôi sẽ chọn cách hiểu thứ hai, tức là không thanh toán và thanh toán một phần là khác nhau. Cho nên, trong trường hợp có thẩm phán nào đó muốn mở thủ tục phá sản, liệu họ có đủ tự tin để mở thủ tục khi bản thân họ bị “chi phối” bởi Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước không? Trong bối cảnh đó, về mặt logic, rất khó để thẩm phán có thể ra quyết định áp dụng thủ tục phá sản.

Nếu không có một hướng dẫn chính thức nào khác, rất khó bắt bẻ khi thẩm phán áp dụng cách hiểu này. Mặc dù về mặt xét xử vẫn có thể đánh giá dựa trên lẽ công bằng và/hoặc học thuyết pháp lý nhưng những cách này chỉ áp dụng khi mà câu chữ của luật (black letter) không rõ ràng. Để luật đi vào cuộc sống, để các Tòa Phá sản vừa được thành lập không bị “phá sản” bởi các “động tác kỹ thuật”, Tòa án Nhân dân Tối cao (thông qua Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao hoặc Hội đồng thẩm phán) phải có hướng dẫn cụ thể về điểm này.

(*) Công ty Luật TNHH LSG
(1) Điểm a khoản 3 điều 39 Luật Phục hồi, phá sản
(2) Điều 41 Luật Phục hồi, phá sản
(3) Khoản 2 điều 5 Luật Phục hồi, phá sản

TS.LS. Phạm Hoài Huấn (*)

Nguồn Saigon Times: https://thesaigontimes.vn/de-luat-ve-pha-san-khong-bi-pha-san/