Đề nghị bỏ yêu cầu phải tăng tỷ lệ giải quyết đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm hàng năm
Đối với quy định về chỉ tiêu giải quyết đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm trong dự án Nghị quyết thay thế Nghị quyết số 96/2019/QH14, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao tán thành Phương án 2 (không tiếp tục quy định tỷ lệ giải quyết từ 60% trở lên...) nhưng đề nghị bỏ yêu cầu phải tăng tỷ lệ giải quyết đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm hàng năm.

Quang cảnh phiên làm việc của Quốc hội sáng 6/8 (Ảnh: CTTĐT Quốc hội).
Sáng 6/8, tiếp tục chương trình Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định, Quốc hội nghe Tờ trình và Báo cáo thẩm tra dự án Nghị quyết thay thế Nghị quyết số 96/2019/QH14 về công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật, công tác của Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân và công tác thi hành án.
Trình bày Tờ trình của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Tổng Thư ký Quốc hội, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Lê Quang Mạnh cho biết, việc xây dựng Nghị quyết mới nhằm đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật và hoạt động tư pháp trong tình hình mới.
Hệ thống chỉ tiêu, nhiệm vụ được xác định vừa là mục tiêu để các cơ quan tư pháp phấn đấu, vừa là công cụ để Quốc hội đánh giá kết quả hoạt động; qua đó tăng cường trách nhiệm giải trình, giám sát và kiểm soát quyền lực trong các khâu phòng ngừa, phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án.
Nghị quyết thể hiện niềm tin, kỳ vọng của Quốc hội và cử tri đối với các cơ quan tư pháp
Theo Tờ trình, quá trình xây dựng dự thảo Nghị quyết quán triệt yêu cầu thể chế hóa đầy đủ, đúng đắn chủ trương, đường lối của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.

Tổng Thư ký Quốc hội, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Lê Quang Mạnh trình bày Tờ trình (Ảnh: CTTĐT Quốc hội).
Một trong những định hướng quan trọng là xây dựng các chỉ tiêu, nhiệm vụ có khả năng phản ánh thực chất chất lượng, hiệu quả hoạt động của từng cơ quan. Các chỉ tiêu này được ví như những “KPIs” để Quốc hội giám sát, đánh giá chính xác, khách quan kết quả công tác phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật cũng như hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội nhấn mạnh quan điểm kiên quyết không hạ các chỉ tiêu về chất lượng. Đối với những chỉ tiêu, nhiệm vụ đã được thực hiện vượt cao và duy trì bền vững trong sáu năm qua, dự thảo nghiên cứu điều chỉnh tăng để tiếp tục tạo động lực phấn đấu.
Ngược lại, đối với những chỉ tiêu chưa đạt hoặc thường xuyên phát sinh khó khăn, bất cập trong quá trình thực hiện, cần đánh giá kỹ nguyên nhân, điều chỉnh phù hợp để vừa bảo đảm yêu cầu nâng cao chất lượng, vừa có tính khả thi. Dự thảo cũng nghiên cứu bổ sung một số chỉ tiêu, nhiệm vụ mới, đáp ứng yêu cầu thực tiễn đặt ra.

Các đại biểu tham dự Phiên họp (Ảnh: CTTĐT Quốc hội).
Dự thảo Nghị quyết gồm 8 điều. Trong đó, Điều 1 quy định phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng; từ Điều 2 đến Điều 5 quy định các chỉ tiêu, nhiệm vụ cụ thể trong công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật, công tác của Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân và công tác thi hành án; Điều 6 và Điều 7 quy định trách nhiệm, điều kiện bảo đảm thực hiện; Điều 8 quy định về hiệu lực và tổ chức thi hành.
Thẩm tra dự án Nghị quyết, Ủy ban Pháp luật và Tư pháp cùng các cơ quan của Quốc hội tán thành sự cần thiết ban hành Nghị quyết thay thế Nghị quyết số 96/2019/QH14; cơ bản thống nhất với phạm vi điều chỉnh và các nguyên tắc xây dựng Nghị quyết được nêu trong Tờ trình.

Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội Phan Chí Hiếu trình bày Báo cáo thẩm tra dự án Nghị quyết (Ảnh: CTTĐT Quốc hội).
Qua 6 năm thực hiện, Nghị quyết số 96 đã phát huy hiệu quả rõ nét, tạo chuyển biến tích cực, thực chất trong công tác phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật; nâng cao chất lượng công tác của Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân và công tác thi hành án. Hầu hết chỉ tiêu Quốc hội giao đều được các cơ quan tư pháp thực hiện đạt và vượt yêu cầu.
Theo Ủy ban Pháp luật và Tư pháp, việc xây dựng Nghị quyết mới dưới hình thức văn bản quy phạm pháp luật, trong đó nhiều chỉ tiêu được chuyển từ định tính sang định lượng, không chỉ kế thừa và phát huy kết quả đã đạt được mà còn tạo cơ sở để tiếp tục hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu, nhiệm vụ, đáp ứng yêu cầu mới.
Đây cũng là cơ sở pháp lý để Quốc hội thực hiện hiệu quả quyền giám sát tối cao, đồng thời thể hiện niềm tin, kỳ vọng của Quốc hội và cử tri đối với các cơ quan tư pháp.
Nên hay không nên quy định tỷ lệ giải quyết, xét xử trên tổng số thụ lý?
Dự thảo Nghị quyết xin ý kiến Quốc hội đối với ba nội dung còn có quan điểm khác nhau.
Nội dung thứ nhất liên quan đến chỉ tiêu giải quyết, xét xử vụ án hình sự, vụ việc dân sự và vụ án hành chính.

Các đại biểu tham dự Phiên họp (Ảnh: CTTĐT Quốc hội).
Phương án 1 quy định 100% vụ án, vụ việc phải được giải quyết, xét xử đúng thời hạn luật định; đồng thời tiếp tục xác định tỷ lệ giải quyết, xét xử trên tổng số vụ việc thụ lý.
Cụ thể, tỷ lệ giải quyết, xét xử vụ án hình sự phải đạt trên 88%; riêng vụ án xâm hại trẻ em đạt trên 90%; tỷ lệ giải quyết, xét xử vụ việc dân sự đạt trên 78% và vụ án hành chính đạt trên 65%.
Phương án này cũng đặt ra yêu cầu không làm oan người vô tội, không bỏ lọt tội phạm và không để xảy ra trường hợp trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung không đúng quy định pháp luật.
Đa số ý kiến trong Ủy ban Thường vụ Quốc hội tán thành phương án này. Nhiều ý kiến trong Ủy ban Pháp luật và Tư pháp cùng các cơ quan của Quốc hội cũng cho rằng, việc tiếp tục quy định tỷ lệ giải quyết, xét xử trên tổng số thụ lý là sự kế thừa Nghị quyết số 96. Tuy nhiên, cơ quan thẩm tra đề nghị tiếp tục chỉnh lý cách diễn đạt để chỉ tiêu rõ ràng, dễ hiểu và thuận lợi trong quá trình thực hiện, giám sát.
Phương án 2, chỉ yêu cầu 100% vụ án, vụ việc được giải quyết, xét xử đúng thời hạn luật định, không quy định tỷ lệ giải quyết, xét xử trên tổng số thụ lý. Tòa án nhân dân tối cao, cơ quan trực tiếp thực hiện chỉ tiêu, tán thành phương án này.
Một số ý kiến trong Ủy ban Pháp luật và Tư pháp và Thường trực Ủy ban Dân nguyện và Giám sát cũng cho rằng, chỉ nên quy định chỉ tiêu giải quyết đúng hạn, không đặt ra chỉ tiêu định lượng về tỷ lệ giải quyết vụ án, vụ việc để tránh tạo áp lực đối với ngành Tòa án.
Đề nghị bỏ yêu cầu phải tăng tỷ lệ giải quyết đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm hằng năm
Vấn đề thứ hai là chỉ tiêu giải quyết đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân.
Phương án 1 yêu cầu việc giải quyết đơn phải đúng thời hạn, có căn cứ và đúng quy định pháp luật; đồng thời tiếp tục giữ chỉ tiêu định lượng, với tỷ lệ giải quyết đạt từ 60% trở lên trên tổng số thụ lý. Các cơ quan phải ưu tiên giải quyết những đơn sắp hết thời hạn kháng nghị; hạn chế đến mức thấp nhất trường hợp đã trả lời không có căn cứ kháng nghị nhưng sau đó người có thẩm quyền lại quyết định kháng nghị.
Đa số ý kiến Ủy ban Thường vụ Quốc hội tán thành phương án này. Nhiều ý kiến trong Ủy ban Pháp luật và Tư pháp cùng một số cơ quan của Quốc hội cho rằng, việc vừa yêu cầu giải quyết đúng thời hạn, vừa duy trì chỉ tiêu định lượng sẽ tạo “áp lực tích cực”, thúc đẩy các cơ quan tiến hành tố tụng nỗ lực giải quyết đơn của công dân, kịp thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân.

Các đại biểu tham dự Phiên họp (Ảnh: CTTĐT Quốc hội).
Phương án 2, không tiếp tục quy định tỷ lệ giải quyết từ 60% trở lên, mà yêu cầu tăng tỷ lệ giải quyết đơn hằng năm; đồng thời bảo đảm việc giải quyết đúng thời hạn, có căn cứ và đúng pháp luật.
Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao tán thành Phương án 2, nhưng đề nghị bỏ yêu cầu phải tăng tỷ lệ giải quyết đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm hằng năm.
Một số ý kiến trong cơ quan thẩm tra và các cơ quan của Quốc hội cũng đồng tình với hướng chỉ quy định việc giải quyết đơn đúng thời hạn luật định, không ấn định tỷ lệ định lượng đối với Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân.
Không để xảy ra sai sót do chủ quan trong quản lý giam giữ
Nội dung thứ ba còn ý kiến khác nhau là chỉ tiêu liên quan đến việc người bị tạm giữ, tạm giam, phạm nhân trốn khỏi cơ sở giam giữ.

Các đại biểu tham dự Phiên họp (Ảnh: CTTĐT Quốc hội).
Phương án 1 quy định không để xảy ra trường hợp do thiếu trách nhiệm của cơ sở giam giữ dẫn đến người bị tạm giữ, người bị tạm giam hoặc phạm nhân trốn khỏi cơ sở giam giữ.
Đa số ý kiến Ủy ban Thường vụ Quốc hội tán thành phương án này. Nhiều ý kiến trong Ủy ban Pháp luật và Tư pháp và các cơ quan của Quốc hội cho rằng, đây là yêu cầu cần thiết nhằm bảo đảm quản lý nghiêm ngặt, nâng cao tính kỷ luật và trách nhiệm của các cơ sở giam giữ, không để xảy ra sai sót do chủ quan trong quản lý người bị tạm giữ, tạm giam và phạm nhân.
Phương án 2 quy định theo hướng hạn chế đến mức thấp nhất các trường hợp người bị tạm giữ, tạm giam, phạm nhân trốn khỏi cơ sở giam giữ. Bộ Công an, cơ quan trực tiếp thực hiện chỉ tiêu này, tán thành phương án 2.
Bên cạnh ba nội dung còn có ý kiến khác nhau, Ủy ban Pháp luật và Tư pháp đề nghị Ban Soạn thảo tiếp tục rà soát toàn bộ dự thảo, hoàn thiện các quy định theo hướng chính xác, rõ ràng, thống nhất và khả thi…











