Để nước thải thực sự trở thành tài nguyên
Tại phiên họp chuyên đề pháp luật tháng 8 vừa qua, khi cho ý kiến về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường, Chính phủ yêu cầu nghiên cứu, tiếp thu các ý kiến xác đáng của cộng đồng doanh nghiệp về kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh, sản xuất và tái chế phế thải, sử dụng nước sau xử lý...
Trước đó, góp ý dự thảo Luật, cộng đồng doanh nghiệp đề nghị bổ sung quy định khuyến khích tái sử dụng nước thải sau xử lý. Đồng thời, cần làm rõ việc tái sử dụng nước hoặc tuần hoàn chất thải trong nội bộ cơ sở không phải là hành vi xả thải ra môi trường, để doanh nghiệp chủ động thực hiện mà không phải xin phép hoặc điều chỉnh giấy phép môi trường.
Thực tế, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã xác lập định hướng coi chất thải là tài nguyên, thúc đẩy sử dụng hiệu quả tài nguyên và phát triển kinh tế tuần hoàn. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng, góp phần thúc đẩy chuyển biến trong nhận thức và thực tiễn sản xuất của không ít doanh nghiệp, từ xử lý chất thải đơn thuần sang chú trọng hơn việc tái sử dụng, tái chế và thu hồi giá trị từ chất thải.
Tuy nhiên, theo phản ánh của doanh nghiệp, khung pháp lý hiện hành về quản lý chất thải và nước thải sau xử lý vẫn còn mang nặng tư duy quản lý rủi ro xả thải thụ động, chưa tạo được hành lang pháp lý đủ linh hoạt để khuyến khích doanh nghiệp tái sử dụng nước sau xử lý, hoặc chuyển giao chất thải làm nguyên liệu đầu vào cho các chuỗi sản xuất khác.
Với nước thải sau xử lý, nếu đủ điều kiện được sử dụng trở lại thì lợi ích môi trường rất lớn. Một mặt, giúp giảm lượng nước sạch phải khai thác, giảm lượng nước thải đưa ra môi trường, qua đó giảm áp lực lên nguồn nước và sức chịu tải của môi trường. Mặt khác, tái sử dụng nước có thể tạo thêm động lực kinh tế cho doanh nghiệp. Khi nước sau xử lý có thể quay trở lại sản xuất, đầu tư cho công nghệ xử lý không chỉ là chi phí tuân thủ mà còn giúp tiết kiệm tài nguyên và tạo ra giá trị. Đây cũng là nguyên tắc cốt lõi của kinh tế tuần hoàn: chất thải có thể trở thành tài nguyên khi được đưa trở lại quá trình sản xuất và tiếp tục tạo ra giá trị.
Tất nhiên, khuyến khích tái sử dụng nước thải sau xử lý cần đi cùng với yêu cầu bảo đảm an toàn và kiểm soát rủi ro. Nước đạt quy chuẩn để xả ra nguồn tiếp nhận chưa chắc đã phù hợp với mọi mục đích tái sử dụng. Nước dùng để vệ sinh nhà xưởng, tưới cây hay làm mát thiết bị có yêu cầu khác với nước quay trở lại những công đoạn có khả năng tiếp xúc với thực phẩm.
Vì vậy, cùng với việc mở hành lang pháp lý, cần thiết lập yêu cầu kỹ thuật phù hợp với từng mục đích sử dụng và mức độ rủi ro. Những hoạt động tái sử dụng có rủi ro thấp, đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn có thể được tạo thuận lợi, đơn giản hóa thủ tục. Với những hoạt động có rủi ro cao hơn, yêu cầu về chất lượng nước, quan trắc và kiểm soát cần được thiết kế tương ứng.
Bên cạnh đó, cũng cần tính đến động lực để doanh nghiệp chủ động đầu tư cho tái sử dụng nước. Nếu đầu tư hệ thống tuần hoàn tốn kém trong khi sử dụng nước mới vẫn rẻ hơn, khó kỳ vọng một quy định mang tính “khuyến khích” tự nó có thể tạo ra thay đổi mạnh mẽ trong thực tế. Chính sách về giá nước, phí môi trường, tín dụng xanh và ưu đãi đầu tư công nghệ tiết kiệm nước cần được nghiên cứu theo hướng tạo thêm động lực cho những doanh nghiệp sử dụng ít nước mới hơn, tái sử dụng và tuần hoàn nước nhiều hơn. Đây cũng là điều cần tính tới khi sửa Luật Bảo vệ môi trường.
Theo tinh thần đó, yêu cầu của Chính phủ về nghiên cứu, tiếp thu các ý kiến xác đáng của cộng đồng doanh nghiệp cần được nhìn rộng hơn việc tháo gỡ một vài thủ tục cụ thể. Đây là cơ hội để tiếp tục rà soát, hoàn thiện các quy định theo hướng vừa kiểm soát chặt chẽ rủi ro môi trường, vừa mở đường cho những giải pháp sử dụng hiệu quả, tuần hoàn tài nguyên.
Nếu lần sửa luật này tạo được hành lang pháp lý rõ ràng, an toàn và đủ sức khuyến khích doanh nghiệp chủ động tái sử dụng nước, nguyên tắc “coi chất thải là tài nguyên” sẽ có thêm điều kiện đi vào thực tiễn, góp phần tiết kiệm tài nguyên nước và thúc đẩy kinh tế tuần hoàn.
