Để ruộng xanh ít khói, nhiều nụ cười của nông dân

Lúa chất lượng cao, phát thải thấp ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) được cho là có giá thành sản xuất thấp nhất, trong khi lợi nhuận cao nhất so với nhiều quốc gia sản xuất lúa gạo hàng đầu thế giới. Tuy nhiên, để mở rộng quy mô diện tích, vấn đề quan trọng cần giải quyết là phải có 'đột phá' về đầu ra cũng như chuyển biến mới trong nhận thức…

Giá thành sản xuất lúa trong đề án 1 triệu héc ta của Việt Nam được cho thấp nhất so với nhiều quốc gia sản xuất hàng đầu, trong khi lợi nhuận cao nhất. Ảnh: Trung Chánh

Giá thành sản xuất lúa trong đề án 1 triệu héc ta của Việt Nam được cho thấp nhất so với nhiều quốc gia sản xuất hàng đầu, trong khi lợi nhuận cao nhất. Ảnh: Trung Chánh

Lợi nhuận lúa Việt dẫn đầu thế giới?

Tại tọa đàm gặp gỡ Vietrisa (Hiệp hội ngành hàng lúa gạo Việt Nam) với chủ đề “Một triệu héc ta- một chặng đường” diễn ra tại thành phố Cần Thơ hôm 31-12, ông Cao Đức Phát, nguyên Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường), nguyên Chủ tịch HĐQT Viện Nghiên cứu lúa gạo Quốc tế (IRRI), cho biết đề án 1 triệu héc ta lúa chất lượng cao, phát thải thấp là con đường duy nhất cho ngành hàng lúa gạo Việt Nam nói chung và ĐBSCL nói riêng.

Theo ông, đề án giúp duy trì sự phát triển hiệu quả của ngành lúa gạo, cải thiện thu nhập và đời sống người nông dân, đồng thời, giải quyết các vấn đề môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu.

Cụ thể, về kinh tế, ông Phát đưa ra bài toán phân tích, cho thấy thế giới sản xuất khoảng 800 triệu tấn lúa mỗi năm, trong đó, khoảng 90% sản lượng tập trung ở các quốc gia châu Á. “90% sản lượng này nằm ở 8 nước, gồm Ấn Độ, Trung Quốc, Bangladesh, Indonesia, Việt Nam, Thái Lan, Philippines và Myanmar”, ông cho biết.

Từ các kết quả phân tích, ông Phát nhấn mạnh rằng nếu sản xuất theo quy trình của đề án 1 triệu héc ta, như các mô hình thí điểm đã triển khai, Việt Nam có giá thành sản xuất 1 kg lúa thấp nhất trong nhóm 8 nước này, trong khi nông dân thu được lợi nhuận cao nhất. “Đó là số liệu tôi có được”, ông nhấn mạnh.

Tuy nhiên, khi KTSG Online đặt vấn đề làm rõ hơn về bộ số liệu phân tích, ông Phát cho biết xin phép phản hồi ở dịp khác.

Liên quan đến hiệu quả kinh tế của mô hình thí điểm, ông Nguyễn Văn Hùng, chuyên gia cao cấp của IRRI, từng cho biết mô hình thí điểm tại thành phố Cần Thơ đạt năng suất từ 6,13- 6,51 tấn/héc ta (tùy theo kỹ thuật áp dụng như sạ hàng không vùi phân, sạ hàng đều có vùi phân hoặc sạ hàng biên có vùi phân). Trong khi đó, ruộng đối chứng đạt năng suất 5,89 tấn/héc ta, tức mô hình thí điểm cao hơn từ 0,24-0,62 tấn/héc ta.

Về hiệu quả kinh tế, nhờ giảm chi phí đầu tư trong khi năng suất tăng, nông dân tham gia mô hình tăng lợi nhuận từ 1,3- 6,2 triệu đồng/héc ta, tương đương mức tăng thêm khoảng 50- 280 đô la Mỹ/héc ta.

Cần đột phá đầu ra cho lúa chất lượng cao. Ảnh: Trung Chánh

Cần đột phá đầu ra cho lúa chất lượng cao. Ảnh: Trung Chánh

Cần có “đột phá” đầu ra

Để mục tiêu của đề án 1 triệu héc ta lúa chất lượng cao thành công, vấn đề quan trọng cần giải quyết là phải có “đột phá” về đầu ra.

Ông Huỳnh Văn Thòn, Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần Tập đoàn Lộc Trời, khi nhìn lại sự thất bại của mô hình cánh đồng mẫu lớn triển khai từ năm 2011, cho rằng đầu ra chính là nút thắt lớn nhất. “Không có đầu ra thì không thể tổ chức được vùng nguyên liệu lớn, không thể triển khai đầy đủ các ý đồ, mong muốn và cả lợi ích của người nông dân”, ông nhấn mạnh và bày tỏ kỳ vọng đề án 1 triệu héc ta sẽ giải quyết được điểm nghẽn này.

Theo ông Cao Đức Phát, để đề án thành công cần đạt được nhiều đột phá, trong đó quan trọng nhất là đột phá về thị trường. “Nếu không có đột phá đủ mạnh về thị trường, chương trình sẽ không có động lực để phát triển”, ông nhấn mạnh.

Ông Phát cho biết năm 2025, gạo phát thải thấp đã “mở cửa thị trường” khi Công ty cổ phần Nông nghiệp công nghệ cao Trung An xuất khẩu thành công sang thị trường Nhật Bản. “Nhưng sang năm 2026, thị trường cần bùng nổ hơn nữa, bởi chỉ khi có thị trường thì mới có thể mở rộng diện tích”, ông nói.

Bên cạnh đó, cần có các đột phá về cơ chế phối hợp và cơ chế huy động, sử dụng nguồn lực hỗ trợ. Chẳng hạn, theo Nghị định 112, Nhà nước hỗ trợ mỗi héc ta trong vùng 1 triệu héc ta là 3 triệu đồng. “Như vậy, với 1 triệu héc ta, tổng nguồn lực hỗ trợ lên tới 3.000 tỉ đồng, tương đương hơn 110 triệu đô la Mỹ”, ông Phát cho biết và gợi ý cần có cơ chế rõ ràng, minh bạch để sử dụng hiệu quả nguồn lực này.

Phó chủ tịch Quốc hội cho rằng cần lấy chuyển đổi tư duy làm nền tảng phát triển đề án. Ảnh: KA

Phó chủ tịch Quốc hội cho rằng cần lấy chuyển đổi tư duy làm nền tảng phát triển đề án. Ảnh: KA

“Chuyển tư duy” là nền tảng

Ông Lê Minh Hoan, Phó Chủ tịch Quốc hội, cho rằng kết quả đạt được thời gian qua của đề án chưa phải là thành công lớn, nhưng là tín hiệu tích cực cho thấy đây là hướng đi đúng. “Từ các mô hình tiên phong ở An Giang, Đồng Tháp và Cần Thơ, bà con đã mạnh dạn giảm giống, phân thuốc, trong khi doanh nghiệp bắt đầu đo đạc phát thải và truy xuất nguồn gốc”, ông dẫn chứng.

Theo ông, kết quả nêu trên giúp giảm chi phí sản xuất, cải thiện sức khỏe đất, tăng tính bền vững của cây lúa, đồng thời hạt gạo Việt Nam bắt đầu có “danh tính xanh” trên thị trường quốc tế- không chỉ ngon mà còn thể hiện trách nhiệm với môi trường. “Điều quan trọng không nằm ở con số héc ta, mà ở sự dịch chuyển tư duy phát triển, từ làm nhiều sang làm đúng, từ chuỗi ngành hàng sang hệ sinh thái ngành hàng”, ông nhấn mạnh.

Bước sang giai đoạn mới, cần làm gì?

Để trả lời câu hỏi nêu trên, Phó Chủ tịch Quốc hội kể câu chuyện về một tay súng giỏi ở bang Texas (Mỹ). Trên bức tường của một kho lúa chi chít lỗ đạn và viên nào cũng nằm gọn trong hồng tâm, khiến dân làng trầm trồ. Tuy nhiên, khi nhìn kỹ, mọi người mới phát hiện các vòng tròn hồng tâm được vẽ sau khi đạn đã bắn xong.

Câu chuyện nêu trên nhắc nhở các bên liên quan không nên coi các mô hình điểm là câu trả lời cho mọi vấn đề. “Đừng dùng vài con số đẹp để thay cho sự phức tạp khi mở rộng đề án”, ông nhấn mạnh và cho rằng, mở rộng “không phải là sao chép mô hình”, mà là “sao chép cách tư duy đúng”.

Theo ông, 1 triệu héc ta không chỉ là mục tiêu, mà còn là lời hứa với người nông dân rằng họ sẽ được đồng hành, không bị bỏ lại phía sau; là lời hứa với thị trường rằng gạo Việt Nam đi cùng trách nhiệm bảo vệ môi trường; và là lời hứa với thế hệ mai sau về một con đường phát triển bền vững, dù chậm và khó hơn.

“Một năm qua chúng ta chưa đi nhanh, nhưng đã đi đúng hướng. Và khi đã đúng hướng, điều quan trọng nhất là tiếp tục đi cùng nhau trong một hệ sinh thái lúa gạo xanh, nhân văn và bền vững”, ông nhấn mạnh, đồng thời kỳ vọng trên đồng ruộng sẽ ít khói hơn, nhưng nhiều nụ cười hơn trên gương mặt người nông dân.

Trung Chánh

Nguồn Saigon Times: https://thesaigontimes.vn/de-ruong-xanh-it-khoi-nhieu-nu-cuoi-cua-nong-dan/