Để Việt Nam hóa rồng: 'Hành lang hẹp' và chìa khóa từ tăng năng suất lao động
Tăng trưởng dựa trên thâm dụng vốn và lao động giá rẻ đang dần chạm tới giới hạn, đẩy Việt Nam đối mặt với nguy cơ 'bẫy thu nhập trung bình' hiện hữu. Để duy trì đà phát triển khi giai đoạn dân số vàng đi qua, chìa khóa nằm ở việc cải thiện năng suất lao động và chuyển dịch sang giai đoạn đổi mới sáng tạo...

Ảnh minh họa.
Bức tranh kinh tế vĩ mô của Việt Nam trong bốn thập niên vừa qua cho thấy Việt Nam đã đạt được sự tăng trưởng đầy ấn tượng (6,38% giai đoạn 1986-2024).
Trong những điều kiện thuận lợi khiến Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài cũng như mở ra nhiều cơ hội ký kết các Hiệp định thương mại tự do phải kể đến đó là việc Việt Nam sở hữu lực lượng lao động dồi dào và chăm chỉ, cạnh tranh về mức lương.
Giai đoạn “dân số vàng” mà Việt Nam đang hưởng lợi (giai đoạn mà số người trong độ tuổi lao động gấp hai lần số người phụ thuộc) sẽ còn tiếp diễn thêm khoảng 15 đến 20 năm nữa.
Như vậy, Việt Nam đã đi được hơn một nửa chặng đường của giai đoạn hiếm có trong lịch sử này, khi mức dân số đạt trạng thái cao nhất và tốt nhất, trước khi rơi vào quỹ đạo suy giảm.
Đặc biệt những gánh nặng về ngân sách, tài chính, y tế và sức khỏe có thể đẩy lùi kịch bản tăng trưởng cao, khiến Việt Nam có thể rơi vào một trong hai cái bẫy được dự báo trước: “bẫy thu nhập trung bình” hoặc “sự trì trệ kéo dài”.
Vậy, trong hai thập niên vừa qua, vai trò của năng suất lao động (NSLĐ) và hiệu quả sử dụng vốn - theo cách tiếp cận của lĩnh vực Kinh tế học phát triển - đã thể hiện như thế nào?
Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới (2020), hệ số ICOR (chỉ tiêu đo lường hiệu quả đầu tư) của Việt Nam đã tăng từ 2 tại đầu những năm 1990 lên đến mức đỉnh điểm là 5,9 trong năm 2009. Hệ số ICOR đã giảm một chút kể từ năm 2009 nhưng vẫn cao hơn nhiều (và hiệu quả đầu tư thấp hơn nhiều) so với những năm 1990.

Trong cuốn sách Học cách Công nghiệp hóa (Learning to Industrialize, 2013), được xuất bản ra tiếng Việt gần đây, của GS. Kenichi Ohno (GRIPS, Nhật Bản), tác giả phân tích hệ số ICOR và sự thay đổi của tốc độ tăng năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) của Việt Nam trong giai đoạn 1990-2009. Ông chỉ ra một thực tế trong giai đoạn này là: Việt Nam đã dựa vào mô hình tăng trưởng lấy đầu tư làm động lực, nhưng hiệu quả sử dụng vốn còn thấp.
Từ đầu thập niên 2000, khi chứng kiến những động lực mới đến từ làn sóng toàn cầu hóa và thương mại hóa sẽ thúc đẩy nền kinh tế của Việt Nam, giới nghiên cứu kinh tế và chính sách trong và ngoài nước cũng đồng thời cảnh báo về việc Việt Nam có thể đánh mất sức cạnh tranh nội tại từ các doanh nghiệp sản xuất trong nước.
Sản xuất và xuất khẩu của Việt Nam đã phụ thuộc phần lớn vào các doanh nghiệp nước ngoài, trong khi các chính sách và thể chế của Việt Nam còn yếu so với các nước Đông Á khi so sánh trong cùng thời kỳ (Ohno, K., 2013).
“HÀNH LANG HẸP”
Ngân hàng Thế giới (2010) cũng đã nghiên cứu khả năng Việt Nam rơi vào bẫy thu nhập trung bình và đề xuất giải pháp gồm sáu bước do GS.Justin Yifu Lin, kinh tế trưởng của Ngân hàng Thế giới, xây dựng. Kể từ khi được Ngân hàng Thế giới khởi xướng từ giữa những năm 1990, thuật ngữ “bẫy thu nhập trung bình (middle-income trap)” đã dần xuất hiện ngày càng nhiều trên các kênh thông tin chính thống từ năm 2011. Số liệu cho thấy, các quốc gia thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình là rất ít.
Tại Hội thảo Khoa học quốc gia về kinh tế, tổ chức tại Đại học Kinh tế quốc dân (tháng 4/2025), TS. Vũ Thành Tự Anh (Trường Đại học Fulbright Việt Nam) đã thảo luận về các kịch bản mà Việt Nam có thể đạt được nhằm vượt qua “bẫy thu nhập trung bình”.
Ông nhấn mạnh đến vai trò của Nhà nước là đặc biệt quan trọng, mà trong lịch sử đã chứng minh, giúp một số quốc gia bước vào “Hành lang hẹp” - một thuật ngữ từ cuốn sách cùng tên viết bởi hai tác giả đạt giải Nobel Kinh tế năm 2024 là Daron Acemoglu (Viện Công nghệ Massachusetts, Hoa Kỳ) và James Robinson (Đại học Chicago, Hoa Kỳ).
Kết quả phân tích cho thấy những quốc gia đạt được hai chỉ số “Năng lực của nhà nước” và “Sự tham gia làm chủ của người dân” càng cao sẽ càng tịnh tiến về cánh cửa của “Hành lang hẹp” – khu vực mà các quốc gia trở nên thịnh vượng cả về kinh tế và xã hội (Hình 2). Hầu hết các quốc gia này có mức thu nhập bình quân đầu người ngưỡng 20.000 USD/ năm trở lên.

TS. Vũ Thành Tự Anh cũng cho thấy một bức tranh tương phản khác giữa hai đại diện đến từ các nền kinh tế Đông Bắc Á (Hàn Quốc và Đài Loan) và Đông Nam Á (Thái Lan và Malaysia), mà điều thú vị là Việt Nam lại nằm trên giao điểm của hai khu vực trên về mặt địa lý.
Hàn Quốc và Đài Loan (Trung Quốc) đã di chuyển về phía “hành lang hẹp” từ những thập niên 1990s sau quá trình công nghiệp hóa thành công. Trong khi Malaysia và Thái Lan vẫn còn đang loay hoay trong suốt nhiều năm để tìm cơ hội bứt phá.
Sự so sánh trên thật thú vị và đã đặt Việt Nam - một quốc gia đi sau so với các quốc gia và vùng lãnh thổ kể trên – ở vào giai đoạn mới trong việc lựa chọn mô hình tăng trưởng thực sự hiệu quả.
Một câu hỏi lớn cũng cần đặt ra, đó là: Việt Nam nên học theo các nước Đông Bắc Á hay Đông Nam Á? Quỹ đạo dẫn tới “Hành lang hẹp” nêu trên cho thấy con đường mà các nền kinh tế Đông Bắc Á (như Hàn Quốc và Đài Loan) đã đi tỏ ra hấp dẫn hơn.
CHÌA KHÓA NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG
Báo của của Ngân hàng Thế giới (2020) cũng cho thấy, trước hết Việt Nam cần tăng năng suất lao động để duy trì tăng trưởng dài hạn. Số liệu chứng minh rằng Việt Nam vẫn còn nhiều khả năng để bắt kịp tốc độ tăng trưởng.
Tăng trưởng năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) của Việt Nam đã bị chậm lại và Việt Nam còn rất xa mới chạm đường giới hạn năng suất toàn cầu. Trong năm 2014, TFP của Việt Nam chỉ bằng 1/5 so với Hoa Kỳ và còn thua xa nhiều quốc gia có thu nhập trung bình khác ở Đông Á. Điều này cũng cho thấy Việt Nam còn rất nhiều tiềm năng để phát triển.
Báo cáo Phát triển Thế giới 2024 của Ngân hàng Thế giới cũng phân tích một cách hệ thống các chiến lược mà các nền kinh tế đang phát triển có thể theo đuổi nhằm tránh rơi vào bẫy thu nhập trung bình.
Báo cáo xác định ba giai đoạn phát triển chủ yếu trong tiến trình chuyển dịch từ nền kinh tế thu nhập thấp lên thu nhập cao, bao gồm: Đầu tư, Tiếp thu và Đổi mới.

Ở giai đoạn đầu, các quốc gia có thu nhập thấp có thể đạt được tốc độ tăng trưởng cao chủ yếu thông qua tích lũy vốn (Giai đoạn 1: Đầu tư).
Tuy nhiên, do hiệu suất biên của vốn có xu hướng suy giảm theo thời gian, mô hình tăng trưởng dựa đơn thuần vào tích lũy vốn sớm bộc lộ những giới hạn. Khi đạt tới mức thu nhập trung bình, để duy trì đà tăng trưởng, các quốc gia buộc phải chuyển trọng tâm sang nâng cao năng suất.
Đối với những nền kinh tế còn ở xa ranh giới công nghệ và kinh tế, con đường hiệu quả nhất để cải thiện năng suất là tiếp thu và ứng dụng các công nghệ sẵn có từ các quốc gia phát triển hơn (Giai đoạn 2: bổ sung yếu tố Tiếp thu vào Đầu tư)...
(*) Đại học VinUni, Thành viên Mạng lưới Kinh tế chính sách, tổ chức khoa học và chuyên gia Việt Nam toàn cầu (AVSE Global)
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 05-2026 phát hành ngày 02/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-5-2026.html













