Đề xuất 5 chính sách lớn phát triển ngành in theo hướng hiện đại, ứng dụng công nghệ cao
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đang dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 60/2014/NĐ-CР ngày 19/6/2014 của Chính phủ quy định về hoạt động in nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về hoạt động in, thúc đẩy phát triển ngành in theo hướng hiện đại, ứng dụng công nghệ cao, chuyển đổi số.

Tăng cường quản lý sản phẩm in theo mức độ rủi ro, phối hợp liên ngành và phòng, chống in lậu, hàng giả
Theo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, qua hơn 11 năm thi hành Nghị định số 60/2014/NĐ-CP và các văn bản sửa đổi, bổ sung, hệ thống pháp luật về hoạt động in đã góp phần quan trọng trong việc hình thành khuôn khổ quản lý nhà nước đối với hoạt động in, bảo đảm điều kiện hoạt động của các cơ sở in, quản lý nhập khẩu thiết bị ngành in và xử lý các hành vi vi phạm. Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển mới của đất nước, quá trình chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, nhiều quy định của Nghị định đã bộc lộ những hạn chế, bất cập cần được sửa đổi, bổ sung:
Chưa có cơ sở dữ liệu về hoạt động in
Hiện nay, phương thức quản lý hoạt động in vẫn chủ yếu dựa trên hồ sơ hành chính và báo cáo truyền thống; chưa có Cơ sở dữ liệu về hoạt động in và hệ thống mã dữ liệu thống nhất đối với cơ sở in, thiết bị in để phục vụ quản lý, kết nối, chia sẻ dữ liệu và cung cấp dịch vụ công trực tuyến. Điều này dẫn đến dữ liệu còn phân tán, thiếu tính liên thông, chưa đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và quản trị hiện đại.
Bên cạnh đó, một số thủ tục hành chính trong lĩnh vực in vẫn còn mang tính tiền kiểm, trong khi chưa áp dụng đầy đủ phương thức quản lý dựa trên mức độ rủi ro. Việc thanh tra, kiểm tra chưa thực sự tập trung vào các cơ sở có nguy cơ vi phạm cao, làm giảm hiệu quả sử dụng nguồn lực quản lý nhà nước và chưa tạo thuận lợi tối đa cho các cơ sở in chấp hành tốt pháp luật.
Tình trạng in lậu, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ còn diễn biến phức tạp
Tình trạng in lậu, in giả, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ và sản xuất các sản phẩm in vi phạm pháp luật vẫn còn diễn biến phức tạp. Trong khi đó, việc quản lý hiện hành chưa phân loại đầy đủ sản phẩm in theo mức độ rủi ro, chưa khai thác thống nhất dữ liệu về cơ sở in, thiết bị in và hồ sơ liên quan đến sản phẩm nhận in để phục vụ xác định chủ thể thực hiện, kiểm tra và xử lý vi phạm.
Yêu cầu phát triển ngành in theo hướng xanh, hiện đại và bền vững ngày càng trở nên cấp thiết. Tuy nhiên, Nghị định số 60/2014/NĐ-CP chưa có các chính sách thúc đẩy chuyển đổi xanh, ứng dụng công nghệ sạch, tiết kiệm năng lượng, giảm phát thải, sử dụng vật liệu thân thiện với môi trường và thực hiện kinh tế tuần hoàn trong hoạt động in, dẫn đến chưa phù hợp với các chủ trương, chiến lược phát triển bền vững của Đảng và Nhà nước.
Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới với yêu cầu đẩy mạnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu, nguồn nhân lực ngành in bộc lộ nhiều hạn chế về trình độ công nghệ, kỹ năng quản trị và khả năng thích ứng với mô hình sản xuất hiện đại. Trong khi đó, pháp luật hiện hành chưa có cơ chế phát triển nguồn nhân lực, chưa xây dựng khung năng lực ngành in.
Do đó, việc ban hành Nghị định quy định về hoạt động in thay thế Nghị định số 60/2014/NĐ-CP là hết sức cần thiết nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp lý đồng bộ, hiện đại, khả thi; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; giảm chi phí tuân thủ; thúc đẩy chuyển đổi số, chuyển đổi xanh; phát triển ngành in theo hướng công nghiệp hiện đại, hội nhập; đồng thời tăng cường phòng, chống các hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động in.
Tập trung giải quyết 5 chính sách
Dự thảo Nghị định tập trung giải quyết 5 chính sách lớn, có quan hệ chặt chẽ với nhau:
Chính sách 1. Đổi mới phương thức quản lý nhà nước đối với hoạt động in theo hướng quản trị số, quản lý rủi ro và khai thác dữ liệu
Dự thảo Nghị định thiết lập Cơ sở dữ liệu về hoạt động in được xây dựng, quản lý thống nhất, tích hợp, lưu trữ và chia sẻ dữ liệu phục vụ quản lý nhà nước về hoạt động in.
Phương thức quản lý được chuyển từ quản lý chủ yếu dựa trên hồ sơ sang quản lý bằng dữ liệu; từ kiểm tra dàn trải sang quản lý theo rủi ro; từ yêu cầu cung cấp thông tin nhiều lần sang khai thác dữ liệu đã có và kết nối, chia sẻ giữa các cơ quan. Đây là cơ sở để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đồng thời giảm chi phí tuân thủ và hạn chế trùng lặp thông tin đối với tổ chức, cá nhân.
Chính sách 2. Cải cách thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền và giảm chi phí tuân thủ
Chính sách này tạo ra ba thay đổi cơ bản: (i) điện tử hóa thủ tục; (ii) phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm quản lý của địa phương; (iii) chuyển từ quản lý dựa nhiều vào hồ sơ và báo cáo sang quản lý bằng dữ liệu, rủi ro và hậu kiểm. Qua đó góp phần giảm chi phí tuân thủ, rút ngắn thời gian xử lý và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước.
Chính sách 3. Phát triển ngành in theo hướng hiện đại, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và phát triển nguồn nhân lực
Dự thảo Nghị định bổ sung Điều 3 về chính sách của Nhà nước đối với hoạt động in, trong đó quy định các định hướng hỗ trợ về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; chuyển đổi xanh, bảo vệ môi trường, sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả; đào tạo và phát triển nguồn nhân lực; nâng cao năng lực cạnh tranh; xúc tiến thương mại, mở rộng xuất khẩu và tham gia chuỗi cung ứng; phát triển ngành in trở thành ngành công nghiệp phụ trợ quan trọng...
Việc bổ sung nhóm chính sách này thể hiện sự chuyển đổi từ cách tiếp cận chủ yếu quản lý hoạt động in sang kết hợp quản lý với định hướng phát triển ngành, tạo cơ sở pháp lý để nâng cao năng suất, chất lượng, năng lực công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực và năng lực cạnh tranh của ngành in.
Chính sách 4.Tăng cường quản lý sản phẩm in theo mức độ rủi ro, phối hợp liên ngành và phòng, chống in lậu, hàng giả
Dự thảo phân loại sản phẩm in theo 3 mức rủi ro: cao, trung bình và thấp trên cơ sở tính chất, nội dung, mục đích sử dụng; mức độ ảnh hưởng đến quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; khả năng bị lợi dụng để thực hiện hành vi bị cấm, sản xuất hàng giả hoặc xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.
Cùng với phân loại sản phẩm, dự thảo quy định cơ sở kinh doanh dịch vụ in phải lưu giữ hồ sơ liên quan đến sản phẩm nhận chế bản, in, gia công sau in trong thời hạn 24 tháng; hồ sơ có thể được lưu giữ dưới dạng giấy hoặc điện tử. Cơ chế này tạo nguồn thông tin phục vụ kiểm tra, hậu kiểm, xác định trách nhiệm của cơ sở in và bên đặt in khi có dấu hiệu vi phạm.
Chính sách 5.Hoàn thiện cơ chế quản lý điều kiện hoạt động và thiết bị in theo hướng hiện đại, phù hợp yêu cầu phát triển công nghệ
Chính sách này hướng tới việc duy trì các yêu cầu quản lý cần thiết đối với cơ sở và thiết bị in, đồng thời đơn giản hóa phương thức thực hiện, tăng cường quản lý bằng dữ liệu và hậu kiểm, qua đó tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động đầu tư, đổi mới thiết bị và phát triển công nghệ trong ngành in.
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đang lấy ý kiến đối với dự thảo này trên Cổng TTĐT của Bộ.
