Đề xuất chế độ trợ cấp đối với giáo viên mầm non đã nghỉ công tác chưa được hưởng chế độ
Bộ Giáo dục và Đào tạo đang lấy ý kiến dự thảo Nghị quyết của Chính phủ về chế độ trợ cấp đối với giáo viên mầm non đã nghỉ công tác chưa được hưởng chế độ.

Theo đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo đề xuất đối tượng áp dụng: Giáo viên, cô nuôi dạy trẻ, hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, chủ nhiệm nhà trẻ, phó chủ nhiệm nhà trẻ (sau đây gọi chung là giáo viên mầm non) đáp ứng đồng thời tất cả các điều kiện sau:
(1) Đã có thời gian tham gia công tác (bao gồm thời gian giảng dạy, giáo dục, nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ) tại nhà trẻ, lớp mẫu giáo, lớp vỡ lòng (sau đây gọi chung là cơ sở giáo dục mầm non) ở các xã, phường, khu phố, thôn, làng, bản, nông lâm trường, đội sản xuất, hợp tác xã, nhà máy, công trường, nông trường, lâm trường, xí nghiệp, cơ quan … trong giai đoạn từ năm 1960 đến trước ngày 01 tháng 01 năm 1995.
(2) Đã nghỉ công tác nhưng chưa được hưởng lương hưu hoặc có được hưởng lương hưu nhưng thời gian công tác trước ngày 01 tháng 01 năm 1995 theo quy định tại điểm a khoản này không được tính vào thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc để hưởng lương hưu.
(3) Chưa hưởng chế độ theo quy định tại Nghị định số 14/2020/NĐ-CP ngày 24 tháng 01 năm 2020 của Chính phủ quy định chế độ trợ cấp đối với nhà giáo đã nghỉ hưu chưa được hưởng chế độ phụ cấp thâm niên trong lương hưu.
Về mốc thời gian 1960 nêu trên, Bộ Giáo dục và Đào tạo cho biết, qua rà soát các văn bản chỉ đạo của Đảng, Nhà nước qua các thời kỳ, thì năm 1960 là năm đầu tiên thực hiện kế hoạch 05 năm lần thứ nhất, cũng là năm đầu tiên Trung ương chỉ đạo về việc phát triển các lớp mẫu giáo, lớp vỡ lòng. Cụ thể, tại Báo cáo bổ sung tại Đại hội toàn quốc lần thứ III của Ban Chấp hành Trung ương ngày 07/9/1960 có nhiệm vụ trọng tâm của ngành giáo dục là "phát triển và củng cố chất lượng các lớp mẫu giáo, vỡ lòng nhằm thu hút hết các trẻ em đến tuổi đi học".
Về mốc thời gian ngày 01/01/1995: Qua rà soát thì Bộ GDĐT phối hợp Bảo hiểm xã hội Việt Nam hướng dẫn bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện truy thu bảo hiểm xã hội đối với người lao động đã có thời gian làm việc liên tục tại các cơ sở giáo dục mầm non từ tháng 01/1995 đến khi tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc (tại Công văn số 2150/GDĐT-BHXH ngày 22/3/2004). Đồng thời, ngày 01/01/1995 là thời điểm mà Nghị định số 12/CP về việc ban hành điều lệ bảo hiểm xã hội có hiệu lực thi hành, đây là văn bản đầu tiên có quy định về việc đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, là căn cứ để tính thời gian được hưởng lương hưu khi giáo viên nghỉ hưu.
Mức hưởng trợ cấp
Về mức hưởng trợ cấp, Bộ Giáo dục và Đào tạo đề xuất nội dung quy định:
(1) Giáo viên có giấy tờ chứng minh được thời gian công tác
- Có thời gian công tác từ đủ 03 năm (36 tháng) trở xuống tại cơ sở giáo dục mầm non thì được hưởng mức trợ cấp bằng 6.500.000 đồng;
- Có thời gian công tác trên 03 năm, thì từ năm thứ 4 trở đi cứ mỗi năm (đủ 12 tháng) được cộng thêm 800.000 đồng.
Khi tính thời gian thực hiện chế độ trợ cấp một lần, nếu có tháng lẻ thì cứ đủ 01 tháng (30 ngày) thì mỗi tháng được cộng thêm 67.000 đồng. Số ngày công tác còn dư không đủ 01 tháng không được hưởng.
(2) Trường hợp không xác định cụ thể thời gian tham gia công tác tại các cơ sở giáo dục mầm non hoặc không có giấy tờ theo quy định để chứng minh đã có thời gian công tác hoặc đã hưởng trợ cấp một lần đối với thời gian công tác tại các cơ sở giáo dục mầm non trước ngày 01 tháng 01 năm 1995 hoặc được hưởng lương hưu nhưng thời gian công tác tại các cơ sở giáo dục mầm non trước ngày 01 tháng 01 năm 1995 không được tính vào thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc để hưởng lương hưu thì được hưởng mức trợ cấp một lần bằng 6.500.000 đồng.
(3) Trường hợp vừa có giai đoạn xác định được thời gian công tác vừa có giai đoạn không xác định được thời gian công tác, thì tổng thời gian của các giai đoạn xác định được thời gian công được tính làm căn cứ để hưởng chế độ.
(4) Trường hợp nhà giáo đã từ trần hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì thân nhân hoặc người giám hộ của giáo viên sẽ được hưởng mức trợ cấp này.
Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, hiện nay, một số đối tượng tham gia chiến đấu, sản xuất trong giai đoạn đất nước còn chiến tranh đã được Nhà nước quan tâm giải quyết chế độ trợ cấp 01 lần với mức tiền cụ thể. Ví dụ như: Theo Quyết định số 40/2011/QĐ-TTg ngày 27/07/2011 thì thanh niên xung phong đã hoàn thành nhiệm vụ trong kháng chiến 02 năm đầu được hưởng mức trợ cấp 2.500.000 đồng (tương đương 3 lần mức lương cơ sở tại thời điểm đó) mỗi năm tăng 800.000 đồng; theo Quyết định số 62/2011/QĐ-TTg ngày 09/11/2011 thì người tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, làm nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia, giúp bạn Lào sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 đã phục viên, xuất ngũ, thôi việc nếu có thời gian công tác từ 02 năm trở lên thì được hưởng mức trợ cấp 2.500.000 đồng (tương đương 3 lần mức lương cơ sở tại thời điểm đó) mỗi năm tăng 800.000 đồng…
Như vậy, theo các quy định trên thì những người có công sau 02 năm đầu tiên công tác sẽ được hưởng mức tương đương 03 lần mức lương cơ sở tại thời điểm đó và sau đó mỗi năm tăng thêm 800.000 đồng. Với quan điểm khi xây dựng Nghị quyết là chế độ trợ cấp đối với đội ngũ giáo viên mầm non đã nghỉ công tác được chi trả tương tự như người có công, nhưng mức thấp hơn, do đó, Bộ GDĐT đề xuất phương án 03 năm đầu tiên công tác được hưởng mức tương đương 2,5 lần mức lương cơ sở tại thời điểm này (tính ra khoảng 6.500.000 đồng) và sau đó mỗi năm tăng thêm 800.000 đồng.
Đề xuất hồ sơ, quy trình và thời hạn giải quyết chế độ trợ cấp
Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đề xuất về hồ sơ, quy trình và thời hạn giải quyết chế độ trợ cấp.
Về thành phần hồ sơ:
- Trường hợp có hồ sơ, giấy tờ chứng minh đã có thời gian công tác, hồ sơ gồm: Bản khai của giáo viên mầm non (hoặc thân nhân, người giám hộ); các hồ sơ, giấy tờ chứng minh đã có thời gian công tác;
- Trường hợp không có hồ sơ, giấy tờ mà có người làm chứng, hồ sơ gồm: Bản khai của giáo viên mầm non (hoặc thân nhân, người giám hộ); Bản xác nhận của 02 người làm chứng;
- Trường hợp không có hồ sơ, giấy tờ và không có người làm chứng thì phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi giáo viên từng có thời gian công tác, hồ sơ gồm: Bản khai của giáo viên mầm non (hoặc thân nhân, người giám hộ; Đơn đề nghị có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi giáo viên từng có thời gian công tác.
Quy định chi tiết hồ sơ, quy trình và thời hạn giải quyết chế độ trợ cấp đối với từng trường hợp cụ thể:
- Trường hợp có đủ hồ sơ, giấy tờ chứng minh thời gian công tác thì giáo viên (hoặc thân nhân, người giám hộ) chỉ cần làm đơn đề nghị, gửi Ủy ban nhân dân cấp xã (nơi đăng ký thường trú) giải quyết chế độ.
- Trường hợp không có hồ sơ, giấy tờ chứng minh thời gian công tác thì cần có văn bản làm chứng 02 người (người từng quản lý, công tác, người học, đồng nghiệp…) sau đó giáo viên (hoặc thân nhân, người giám hộ) làm đơn đề nghị, gửi Ủy ban nhân dân cấp xã (nơi đăng ký thường trú) giải quyết chế độ.
- Trường hợp không có hồ sơ, giấy tờ và không có người làm chứng thì giáo viên (hoặc thân nhân, người giám hộ) phải có văn bản xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi giáo viên từng có thời gian công tác, sau đó giáo viên (hoặc thân nhân, người giám hộ) làm đơn đề nghị gửi Ủy ban nhân dân cấp xã (nơi đăng ký thường trú) giải quyết chế độ. Việc xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi giáo viên đã từng công tác phải được thực hiện sau khi hoàn thành thủ tục công khai, niêm yết thông tin về quá trình công tác của giáo viên tại trang thông tin điện tử của Ủy ban nhân dân cấp xã và tổ, thôn, xóm… nơi cơ sở giáo dục mầm non từng đóng trên địa bàn.
- Đối với giáo viên mầm non đã từ trần hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì thân nhân hoặc người giám hộ của giáo viên theo quy định của pháp luật về dân sự được làm hồ sơ đề nghị và hưởng chế độ trợ cấp như đối với giáo viên.
Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, qua số liệu báo cáo của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, cả nước có trên 120.000 giáo viên mầm non đã công tác chưa được hưởng chế độ, trong đó tập trung ở các tỉnh từ Quảng Bình (cũ) trở ra Bắc.
Những giáo viên này đã tham gia giảng dạy, làm việc tại các nhà trẻ, lớp mẫu giáo, lớp vỡ lòng ở các đội sản xuất, hợp tác xã, nông trường, lâm trường, xí nghiệp… thuộc các xã, phường, thôn, làng, bản, nông lâm trường…; đối tượng giảng dạy là con em của xã viên, công nhân, cán bộ, chiến sĩ tham gia kháng chiến, lao động…
Nhiều giáo viên vào ngành những năm 1960, có thời gian công tác từ 20 đến 30 năm. Các giáo viên mầm non thời kỳ này đều được trả công bằng thóc (những năm 1980 được trả khoảng 10 kg thóc/tháng, những năm 1990 được trả khoảng 20 kg thóc/tháng) hoặc thù lao do cha mẹ trẻ em tự nguyện đóng góp (những năm 1990 được trả thù lao khoảng 40.000 - 50.000 đ/tháng).
Những giáo viên này khi nghỉ công tác không được hưởng bất kì chế độ, chính sách nào của nhà nước mặc dù có thời gian công tác, cống hiến với nghề, với trẻ và trải qua những thời điểm khó khăn, đau thương nhất của đất nước khi hai miền đất nước bị chia cắt. Trong khi một số đối tượng có thời gian tham gia chiến đấu, sản xuất trong giai đoạn đất nước còn chiến tranh đã được Nhà nước quan tâm giải quyết chế độ, chính sách.
Mặc dù, ngày 18/8/2011 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 45/2011/QĐ-TTg về quy định hỗ trợ một phần kinh phí đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện đối với giáo viên mầm non có thời gian công tác từ trước năm 1995 nhưng chưa đủ điều kiện hưởng chế độ hưu trí, tuy nhiên vì nhiều lý do mà nhiều giáo viên chưa được đóng bù hoặc đóng bù vẫn không đủ điều kiện để hưởng lương hưu…
Ngày 24/01/2020, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 14/2020/NĐ-CP quy định chế độ trợ cấp đối với nhà giáo đã nghỉ hưu chưa được hưởng chế độ phụ cấp thâm niên trong lương hưu, tuy nhiên, Nghị định này chỉ áp dụng cho những nhà giáo nghỉ hưu trong khoảng thời gian từ ngày 01/01/1994 đến ngày 31/5/2011. Do đó, nhiều giáo viên mầm non đã nghỉ hưu công tác trước năm 1995 không đủ điều kiện để được hưởng chế độ trợ cấp theo Nghị định số 14/2020/NĐ-CP.












