Đề xuất chính sách phát triển du lịch bền vững, đầu tư cao tốc hiệu quả
Sáng 7/11, Đoàn đại biểu Quốc hội (ĐBQH) tỉnh do đồng chí Trần Vũ Khiêm, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Trưởng đoàn ĐBQH tỉnh dẫn đầu đã thảo luận tại tổ về dự án Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù về phát triển du lịch và chủ trương đầu tư 3 dự án đầu tư xây dựng đường bộ cao tốc.
Đề xuất siết ưu đãi đầu tư, tăng hỗ trợ cộng đồng tham gia phát triển du lịch

Quang cảnh phiên thảo luận - Ảnh: CTV
Thảo luận tại tổ về dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển du lịch, đồng chí Trần Vũ Khiêm, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Trưởng đoàn ĐBQH tỉnh tán thành sự cần thiết ban hành nghị quyết nhằm thể chế hóa kịp thời các chủ trương của Đảng, tạo hành lang pháp lý đặc thù, tháo gỡ những điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực và thúc đẩy du lịch phát triển. Từ thực tiễn tại địa phương, đồng chí tập trung góp ý 3 nhóm vấn đề.
Thứ nhất, về chính sách thu hút nhà đầu tư chiến lược, đồng chí cho rằng dự thảo đã thiết kế các nhóm dự án du lịch chất lượng cao, dự án động lực và dự án động lực chiến lược với tổng mức đầu tư lớn, từ 3.000 tỉ đồng-30.000 tỉ đồng, đi kèm các chính sách ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp. Tuy nhiên, đối với những địa bàn khó khăn, yêu cầu về tổng mức đầu tư như dự thảo cũng là một rào cản đáng kể.
Đồng chí lưu ý, nếu không kiểm soát chặt chẽ các tiêu chí, chính sách ưu đãi có thể bị lợi dụng, dẫn đến tình trạng núp bóng dự án du lịch để phát triển bất động sản thương mại hoặc gây thất thu ngân sách. Vì vậy, cần quy định các hạng mục du lịch được hưởng ưu đãi phải hạch toán độc lập doanh thu, chi phí; loại trừ các hợp phần bất động sản thương mại, đất ở khỏi diện ưu đãi thuế và tiền thuê đất.

Đồng chí Trần Vũ Khiêm, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh thảo luận tại tổ - Ảnh: C.T.V
Đồng thời, cần bổ sung chế tài đủ mạnh đối với doanh nghiệp không bảo đảm tiến độ giải ngân hoặc sử dụng đất sai mục đích. Trường hợp không đạt tiêu chí giải ngân 30% vốn trong ba năm sau khi được hưởng ưu đãi, hoặc vi phạm mục đích sử dụng đất, phải xem xét thu hồi toàn bộ ưu đãi và hoàn trả các khoản thuế, tiền thuê đất đã được miễn, giảm, kèm lãi suất phát sinh.
Theo đồng chí, việc chỉ căn cứ vào tỉ lệ giải ngân 30% mà thiếu cơ chế kiểm soát tiến độ thực hiện các giai đoạn tiếp theo có thể tạo kẽ hở để doanh nghiệp giải ngân hình thức, tạm ứng vốn hoặc giữ đất chờ tăng giá, chuyển nhượng dự án. Thực trạng dự án chậm triển khai, kéo dài vẫn diễn ra ở nhiều địa phương. Bên cạnh đó, ưu đãi thuế quá sớm khi dự án chưa tạo ra giá trị kinh tế-xã hội thực chất cũng có thể gây bất bình đẳng giữa các doanh nghiệp.
Thứ hai, về chính sách khuyến khích người dân tham gia phát triển du lịch cộng đồng và chuỗi giá trị, đồng chí nhấn mạnh, du lịch chỉ có thể phát triển bền vững khi người dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa, vùng đệm di sản, khu vực biên giới và miền núi được trực tiếp tham gia, thụ hưởng lợi ích.
Dẫn chứng từ thực tiễn tỉnh Quảng Trị, đồng chí cho biết, riêng vùng đệm Di sản thiên nhiên thế giới Phong Nha-Kẻ Bàng có diện tích hơn 220.000ha, với trên nửa triệu người dân sinh sống. Tuy nhiên, các chính sách trong dự thảo hiện chủ yếu tập trung vào dự án lớn và nhà đầu tư chiến lược, trong khi hộ kinh doanh, hợp tác xã và cộng đồng làm du lịch quy mô nhỏ chưa có tiêu chí, điều kiện và cơ chế hỗ trợ cụ thể. Đây cũng là những đối tượng còn gặp nhiều khó khăn trong tiếp cận tín dụng ưu đãi, thủ tục hành chính và đầu tư hạ tầng thiết yếu.
Từ đó, đồng chí đề nghị bổ sung cơ chế hỗ trợ trực tiếp cho cộng đồng dân cư, hộ gia đình; trong đó nghiên cứu hỗ trợ tiếp cận tín dụng ưu đãi, giảm yêu cầu thế chấp tài sản trong giai đoạn đầu đối với các mô hình homestay, du lịch sinh thái quy mô nhỏ tại vùng đặc biệt khó khăn. Cùng với đó là hỗ trợ đầu tư hạ tầng xử lý rác thải, nước sạch, hạ tầng số và đào tạo nghề du lịch gắn với bản sắc văn hóa bản địa.
Đồng chí cũng đề xuất xây dựng cơ chế liên kết chuỗi giá trị giữa các tập đoàn, doanh nghiệp lớn với hợp tác xã, hộ nông dân địa phương trong cung ứng sản phẩm OCOP và dịch vụ văn hóa, qua đó tạo sinh kế, giữ lại giá trị gia tăng cho người dân bản địa.
Thứ ba, về vai trò điều tiết, định hướng và kiến tạo của Nhà nước, đồng chí cho rằng việc phân cấp mạnh cho chính quyền địa phương, HĐND cấp tỉnh trong quyết định và triển khai các chính sách hỗ trợ cần đi đôi với khung tiêu chí đánh giá thống nhất từ Trung ương. Nếu thiếu cơ chế kiểm soát, có thể dẫn đến cạnh tranh không lành mạnh giữa các địa phương về ưu đãi đất đai, thuế, đồng thời tiềm ẩn nguy cơ buông lỏng quản lý môi trường, an ninh trật tự, nhất là tại các khu vực nhạy cảm.
Vì vậy, đề nghị bổ sung nguyên tắc phân cấp triệt để phải gắn với năng lực thực thi và trách nhiệm giải trình của chính quyền địa phương; giao Chính phủ quy định khung tiêu chí thống nhất về giám sát, hậu kiểm đối với các dự án quy mô lớn và mô hình thí điểm. Các đề án thử nghiệm cần có phương án đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro về môi trường sinh thái, an ninh trật tự và bảo vệ nguyên trạng cảnh quan di sản trước khi trình cấp có thẩm quyền xem xét, chấp thuận.
Đồng chí Trần Vũ Khiêm nhấn mạnh, các cơ chế, chính sách đặc thù phát triển du lịch cần bảo đảm tính đồng bộ, giải quyết được những vấn đề từ thực tiễn; vừa thu hút nguồn lực đầu tư chiến lược, vừa tạo sinh kế bền vững cho người dân, gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa bản địa, bảo vệ tài nguyên và môi trường. Không vì mục tiêu tăng trưởng trước mắt mà đánh đổi môi trường sinh thái và sự an toàn của cộng đồng.
Bảo đảm nguồn lực đầu tư cao tốc Bảo Hà - Tân Phong phù hợp khả năng ngân sách địa phương

Đồng chí Nguyễn Minh Tâm, Phó trưởng đoàn chuyên trách Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh thảo luận tại tổ - Ảnh: C.T.V
Thảo luận tại tổ về dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về chủ trương đầu tư các dự án đường bộ cao tốc, đồng chí Nguyễn Minh Tâm, Phó trưởng đoàn chuyên trách Đoàn ĐBQH tỉnh cơ bản thống nhất với sự cần thiết triển khai các dự án; đồng thời đề nghị làm rõ trách nhiệm đóng góp ngân sách của từng địa phương, có cơ chế hỗ trợ bổ sung từ ngân sách Trung ương và bảo đảm công khai, minh bạch trong quá trình thực hiện.
Qua nghiên cứu hồ sơ dự thảo Nghị quyết về chủ trương đầu tư xây dựng đường bộ cao tốc Bảo Hà-Lai Châu, đoạn Bảo Hà-Tân Phong, đồng chí nhất trí cao với chủ trương đầu tư các tuyến cao tốc, trong đó có dự án này. Đồng chí cũng bày tỏ sự đồng tình với tờ trình của Chính phủ và báo cáo thẩm tra của Ủy ban Kinh tế và Tài chính.
Về sự cần thiết đầu tư, đồng chí nhấn mạnh, Lai Châu là tỉnh miền núi, biên giới, địa hình chia cắt mạnh, điều kiện giao thông còn nhiều khó khăn, thường xuyên chịu ảnh hưởng của tình trạng sạt lở. Vì vậy, việc đầu tư hạ tầng giao thông có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, không chỉ góp phần củng cố quốc phòng, an ninh, ổn định dân cư, nâng cao đời sống đồng bào các dân tộc mà còn tạo động lực phát triển kinh tế-xã hội, thu hẹp khoảng cách giữa miền núi và miền xuôi.
Đặc biệt, tuyến cao tốc sẽ mở ra không gian phát triển mới, tạo điều kiện thu hút đầu tư, thúc đẩy du lịch, thương mại biên giới, công nghiệp chế biến và tiêu thụ nông sản. Do đó, đây không đơn thuần là dự án giao thông mà còn là công trình có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển kinh tế-xã hội và bảo đảm quốc phòng-an ninh tại địa bàn biên giới.
Về nguồn vốn và trách nhiệm ngân sách, đồng chí Nguyễn Minh Tâm cho biết, dự án có chiều dài khoảng 119km, tổng mức đầu tư sơ bộ gần 51.000 tỉ đồng. Trong đó, ngân sách Trung ương dự kiến bố trí gần 49.000 tỉ đồng, ngân sách địa phương khoảng trên 2.000 tỉ đồng, tương ứng khoảng 50% chi phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trên địa bàn hai tỉnh Lai Châu và Lào Cai.
Đồng chí ghi nhận việc Chính phủ đề xuất ngân sách Trung ương giữ vai trò chủ đạo trong đầu tư dự án. Tuy nhiên, cần tính toán kỹ khả năng cân đối ngân sách của địa phương, nhất là Lai Châu-tỉnh còn nhiều khó khăn, nguồn thu hạn chế. Năm 2025, thu ngân sách của tỉnh chỉ đạt khoảng 3.500 tỉ đồng, dự kiến năm 2026 gần 4.000 tỉ đồng; trong khi ngân sách Trung ương hỗ trợ chiếm khoảng 75% tổng ngân sách hằng năm. Nhu cầu nguồn lực dành cho giáo dục, y tế, giảm nghèo, đầu tư hạ tầng thiết yếu và bảo đảm an sinh xã hội cũng rất lớn.
Từ thực tế đó, đồng chí đề nghị cơ quan soạn thảo nghiên cứu, làm rõ căn cứ việc tỉnh Lào Cai không tham gia vốn cho công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; đồng thời xác định cụ thể nghĩa vụ đóng góp ngân sách của từng địa phương theo khả năng cân đối thực tế, tránh áp dụng máy móc tỉ lệ đóng góp như nhau đối với các tỉnh có điều kiện kinh tế-xã hội khác nhau.
Bên cạnh đó, cần có cơ chế để ngân sách Trung ương hỗ trợ bổ sung trong trường hợp chi phí giải phóng mặt bằng, tái định cư tăng so với dự kiến, không để địa phương phải điều chỉnh, cắt giảm nguồn lực dành cho các nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội thiết yếu.
Đối với quy định tại khoản 3, Điều 3 của dự thảo về áp dụng hình thức chỉ định thầu đối với các gói thầu thuộc dự án, đồng chí thống nhất đây là cơ chế cần thiết nhằm đẩy nhanh tiến độ triển khai. Tuy nhiên, việc chỉ định thầu phải gắn với yêu cầu lựa chọn nhà thầu đủ năng lực, bảo đảm công khai, minh bạch, kiểm soát chặt chẽ chi phí và chất lượng công trình, phòng chống thất thoát, lãng phí.
Đồng chí nhấn mạnh, các cơ chế, chính sách đặc thù cần thực sự tạo thuận lợi cho quá trình triển khai dự án, nhưng không được làm giảm trách nhiệm giải trình và hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước.

