Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Bắc Ninh thảo luận về một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển du lịch Việt Nam

BẮC NINH -Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, sáng 7/11, dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Thị Hương, Phó Bí thư Thường trực Thành ủy, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Bắc Ninh, Tổ đại biểu số 7 (gồm Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Bắc Ninh và tỉnh Lâm Đồng) tập trung thảo luận về một số chủ trương, dự án nghị quyết quan trọng.

Các đại biểu thảo luận về chủ trương đầu tư 3 Dự án đầu tư xây dựng đường bộ cao tốc: Cao tốc Bảo Hà – Lai Châu (đoạn Bảo Hà – Tân Phong), Cao tốc Quảng Ngãi – Kon Tum, Cao tốc Mộc Châu – Sơn La – Điện Biên (địa phận tỉnh Sơn La); Dự án Nghị quyết của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển du lịch Việt Nam.

 Đại biểu Đỗ Thị Việt Hà nêu ý kiến

Đại biểu Đỗ Thị Việt Hà nêu ý kiến

Góp ý vào Dự án Nghị quyết của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển du lịch Việt Nam, đại biểu Đỗ Thị Việt Hà tham gia góp ý vào ba nội dung: Thứ nhất, về chính sách hỗ trợ phát triển nhân lực du lịch (Điều 8). Tại khoản 1 Điều 8 của dự thảo Nghị quyết quy định “ưu tiên bố trí vốn Chương trình mục tiêu quốc gia cho đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng nghề du lịch cho lao động nông thôn, đồng bào dân tộc thiểu số và người lao động tại vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo”.

Theo đại biểu, Nghị quyết số 46/2026/QH16 phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026 - 2035 đã xác định nguyên tắc phân bổ ngân sách nhà nước thực hiện Chương trình là “Đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, không manh mún, dàn trải; tập trung ưu tiên phân bổ ngân sách nhà nước ở mức cao nhất cho các xã, thôn đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, an toàn khu, biên giới, hải đảo”. Do đó, đại biểu đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo cân nhắc tính cần thiết, làm rõ việc ưu tiên bố trí vốn Chương trình mục tiêu quốc gia trong mối tương quan với việc thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026 - 2035, bảo đảm nguồn lực thực hiện, bảo đảm tính khả thi, đáp ứng yêu cầu thực tiễn.

Thứ hai, về chính sách thị thực đặc biệt tạo thuận lợi nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú đối với khách du lịch quốc tế (Điều 9). Theo đại biểu, các chính sách thị thực trong dự thảo Nghị quyết còn rất chung chung, chưa rõ cơ chế thực hiện, cần tiếp tục nghiên cứu, cụ thể hóa đầy đủ chủ trương của Nghị quyết số 26/NQ-TW thành các chính sách cụ thể, khả thi, tạo thuận lợi trong việc nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú đối với khách du lịch quốc tế. Đối với chính sách “nghiên cứu cơ chế thí điểm có kiểm soát về thị thực, nhập cảnh và lưu trú đối với người nước ngoài làm việc từ xa, có khả năng lưu trú dài ngày, đóng góp cho kinh tế du lịch, bảo đảm quốc phòng, an ninh” tại khoản 3, đề nghị làm rõ nội hàm của việc “nghiên cứu cơ chế thí điểm có kiểm soát” của chính sách này bởi vì nội dung này không có tính quy phạm pháp luật, mang tính chất tổ chức thực hiện; trường hợp chính sách này chưa chín, chưa rõ thì đề nghị không đưa vào dự thảo Nghị quyết chính sách này.

 Toàn cảnh phiên thảo luận tại tổ sáng ngày 7/11.

Toàn cảnh phiên thảo luận tại tổ sáng ngày 7/11.

Tại khoản 5 Điều 9 của dự thảo Nghị quyết quy định “chuyên gia, lao động kỹ thuật nước ngoài có trình độ cao, nghệ sĩ, diễn viên có giấy phép hành nghề hợp pháp tại nước sở tại và được doanh nghiệp trong nước ký hợp đồng lao động để làm việc hoặc tham gia biểu diễn, sự kiện tại các dự án du lịch quy định tại các khoản 1, 2, 3 Điều 4 Nghị quyết này được miễn giấy phép lao động, được cấp thị thực, thẻ tạm trú cho bản thân cùng vợ/chồng, con dưới 18 tuổi đi cùng theo thời hạn của hợp đồng lao động”. Đại biểu nhận thấy, Điều 154 của Bộ luật Lao động quy định cụ thể về những trường hợp người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam không thuộc diện cấp giấy phép lao động, trong đó khoản 9 Điều 154 quy định các trường hợp khác thực hiện theo quy định của Chính phủ. Đề nghị cân nhắc không quy định về chính sách miễn giấy phép lao động đối với các đối tượng nói trên trong Nghị quyết này, theo đó, Chính phủ có thể quy định về các trường hợp người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam không thuộc diện phải cấp giấy phép lao động.

Thứ ba, về tổ chức thực hiện (Điều 11). Đại biểu nêu: Khoản 1 Điều 11 của dự thảo Nghị quyết quy định “Chính phủ hướng dẫn thực hiện Nghị quyết này; đồng thời căn cứ Nghị quyết số 26-NQ/TW và yêu cầu thực tiễn để kịp thời ban hành quy định về cơ chế, chính sách hỗ trợ, ưu đãi phát triển điểm đến và sản phẩm du lịch mới; thu hút các kênh truyền thông quốc tế sản xuất, phát sóng chương trình quảng bá điểm đến Việt Nam; huy động, sử dụng các quỹ đầu tư, quỹ bảo lãnh tín dụng và công cụ tài chính phù hợp hỗ trợ doanh nghiệp du lịch nhỏ và vừa; tín dụng đầu tư ưu đãi hỗ trợ khởi nghiệp, hỗ trợ lãi suất trực tiếp. Định kỳ hằng năm báo cáo Quốc hội về kết quả thực hiện Nghị quyết này”.

Theo đại biểu, trong dự thảo Nghị quyết đã giao Chính phủ quy định chi tiết các điều 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10; bên cạnh đó, trong phạm vi thẩm quyền của mình, Chính phủ có thể ban hành các quy định để thực hiện chính sách phát triển du lịch mà không cần Quốc hội giao tại Nghị quyết của Quốc hội. Do đó, đề nghị cân nhắc việc giao Chính phủ thực hiện các nhiệm vụ nêu trên tại Điều 11. Đồng thời, đề nghị bổ sung quy định trách nhiệm sơ kết, tổng kết thực hiện Nghị quyết này để báo cáo Quốc hội.

Tại khoản 3 Điều 11 quy định “HĐND, UBND cấp tỉnh, theo chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền có trách nhiệm tổ chức triển khai thực hiện Nghị quyết tại địa phương; chủ động có cơ chế, chính sách, giải pháp phù hợp để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, thúc đẩy phát triển du lịch trên địa bàn; theo dõi, kiểm tra việc thực hiện các cơ chế, chính sách trên địa bàn; kịp thời báo cáo cấp có thẩm quyền đối với những vấn đề vượt thẩm quyền”. Đề nghị tiếp tục rà soát, phân định cụ thể nhiệm vụ của HĐND, UBND cấp tỉnh bởi vì có những nhiệm vụ chỉ thuộc thẩm quyền của UBND cấp tỉnh như kiểm tra việc thực hiện cơ chế, chính sách trên địa bàn.

Kết luận phiên thảo luận, đồng chí Nguyễn Thị Hương ghi nhận, đánh giá cao tinh thần trách nhiệm của các đại biểu. Đồng chí đề nghị bộ phận thư ký tổng hợp đầy đủ các ý kiến phát biểu tại tổ, chuyển đến Chính phủ và các cơ quan của Quốc hội để nghiên cứu, tiếp thu, giải trình trong quá trình hoàn thiện các chính sách, bảo đảm chất lượng và đáp ứng yêu cầu thực tiễn.

Mai Phương

Nguồn Bắc Ninh: https://baobacninhtv.vn/doan-dai-bieu-quoc-hoi-thanh-pho-bac-ninh-thao-luan-ve-mot-so-co-che-chinh-sach-dac-thu-phat-trien-du-lich-viet-nam-postid457870.bbg