Đề xuất đánh thuế 0,2% đất bỏ hoang: Đất ngân hàng đang xử lý nợ có bị đánh thuế?
Góp ý cho dự thảo luật thuế chiều 23/10, các đại biểu Quốc hội bày tỏ sự đồng tình với mục tiêu áp thuế suất 0,2% đối với đất bỏ hoang nhưng cho rằng cần làm rõ đối tượng chịu thuế, tiêu chí xác định và tính thống nhất với pháp luật đất đai.
Tham gia góp ý đối với dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp và Luật Thuế thu nhập cá nhân vào chiều 23/10, đại biểu Quốc hội Tô Huy Vũ dành sự quan tâm đặc biệt đến đề xuất áp dụng mức thuế suất 0,2% đối với đất bỏ hoang.
Dù đồng tình với mục tiêu chung của chính sách, vị đại biểu nhận định cơ quan soạn thảo cần làm rõ đối tượng chịu thuế, điều kiện áp dụng cũng như bảo đảm sự thống nhất với hệ thống pháp luật về đất đai trước khi chính thức triển khai.
Một trong những vấn đề trọng tâm được đại biểu Tô Huy Vũ đặt ra là phương án xử lý đối với khối bất động sản mà các tổ chức tín dụng hoặc Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) đang nắm giữ trong quá trình xử lý tài sản bảo đảm.

Đại biểu Quốc hội Tô Huy Vũ thảo luận tại tổ chiều 23/10
Theo phân tích của đại biểu, thực tế hiện nay có hai nhóm bất động sản liên quan đến lĩnh vực tài chính, ngân hàng có nguy cơ bị áp dụng mức thuế suất này.
Nhóm thứ nhất là các bất động sản do tổ chức tín dụng hoặc VAMC nhận và nắm giữ trong quá trình xử lý tài sản bảo đảm. Đây thực chất là những tài sản đang trong thời gian chờ bán theo thời hạn pháp luật cho phép chứ không phải hành vi găm giữ đất nhằm mục đích đầu cơ. Nhóm thứ hai là diện tích đất thuộc các dự án đang thế chấp nhưng bị chậm tiến độ triển khai.
Đối với trường hợp này, việc xác định đất có thuộc diện chịu thuế hay không cần phải gắn liền với tình trạng pháp lý thực tế cũng như nguyên nhân dẫn đến việc chậm đưa đất vào sử dụng.
Từ thực tiễn đó, đại biểu đề nghị cần loại trừ các bất động sản mà tổ chức tín dụng và VAMC đang nắm giữ trong thời hạn xử lý tài sản bảo đảm theo quy định pháp luật ra khỏi diện áp dụng thuế suất dành cho đất bỏ hoang.
Bên cạnh việc phân loại đối tượng chịu thuế, đại biểu Tô Huy Vũ cũng chỉ ra những vướng mắc trong cơ sở pháp lý để triển khai chính sách trên thực tế.
Cụ thể, dự thảo luật hiện đang dẫn chiếu sang pháp luật đất đai, trong khi chính cơ quan soạn thảo trong văn bản trả lời Bộ Tư pháp đã thừa nhận Luật Đất đai năm 2024 chưa có khái niệm và tiêu chí cụ thể để xác định đất bỏ hoang. Nội dung này hiện mới chỉ được đề xuất bổ sung trong dự thảo Luật Đất đai sửa đổi tại Tờ trình 744 trình Quốc hội tại cùng kỳ họp.
Do đó, đại biểu cảnh báo nếu hai luật không có cùng thời điểm có hiệu lực từ ngày 1/7 thì rất dễ phát sinh tình trạng đã ban hành mức thuế suất nhưng lại thiếu căn cứ pháp lý để xác định đối tượng chịu thuế.
Một bất cập khác được chỉ ra là ranh giới giữa mức thuế suất 0,2% áp dụng đối với đất bỏ hoang và mức 0,15% áp dụng cho đất chưa sử dụng theo đúng quy định hiện vẫn chưa có sự phân định rõ ràng. Sự thiếu cụ thể này khiến đại biểu lo ngại về nguy cơ nảy sinh cơ chế xin - cho trong quá trình thực thi.
Đáng chú ý, tại khoản 7 Điều 37 của dự thảo Luật Đất đai sửa đổi còn quy định về khoản tiền tính theo mức lũy tiến hằng năm đối với đất dự án chậm đưa vào sử dụng. Nếu các quy định này không được rà soát và điều chỉnh một cách đồng bộ, việc triển khai có thể dẫn đến tình trạng thu trùng nghĩa vụ tài chính đối với người sử dụng đất. Hơn nữa, dẫn chứng từ Báo cáo tổng kết 836, đại biểu cho biết mức thuế suất 0,2% đang áp dụng đối với diện tích đất lấn chiếm thời gian qua thực tế vẫn chưa tạo ra tác động đáng kể đến hành vi nắm giữ đất.

Ảnh minh họa
Từ những phân tích trên, đại biểu Tô Huy Vũ kiến nghị luật cần quy định rõ mức thuế suất 0,2% chỉ được phép áp dụng khi cơ quan có thẩm quyền đã xác định và công bố chính thức tình trạng đất thuộc diện chịu thuế, đồng thời phải loại trừ những trường hợp chậm đưa đất vào sử dụng do các nguyên nhân khách quan.
Song song với việc loại trừ bất động sản đang được các tổ chức tín dụng, VAMC nắm giữ trong thời hạn xử lý tài sản bảo đảm, đại biểu đề nghị nguyên tắc không thu trùng các nghĩa vụ tài chính theo pháp luật đất đai và cần gắn chặt thời điểm có hiệu lực của chính sách thuế này với thời điểm có hiệu lực của Luật Đất đai sửa đổi.
Bày tỏ sự đồng tình với quan điểm trên, đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga (Đoàn đại biểu Quốc hội TP.Hải Phòng) cho rằng dự thảo luật cần xác định thật rõ ràng từng trường hợp áp dụng cho mỗi mức thuế suất, đặc biệt là làm rõ phạm vi điều chỉnh có bao gồm cả diện tích đất ở hợp pháp của các hộ gia đình, cá nhân nhưng chưa tiến hành xây dựng hay không.
Theo nữ đại biểu, luật cũng cần quy định cụ thể về cơ quan có trách nhiệm kết luận tình trạng sử dụng đất, thời điểm bắt đầu và kết thúc việc áp dụng thuế, cũng như quy trình thông báo và cơ chế giải quyết khiếu nại khi người sử dụng đất không đồng tình với kết luận.
Ngoài ra, quá trình áp dụng cần phải phân biệt rạch ròi giữa hành vi chậm sử dụng đất do lỗi chủ quan của chủ đầu tư với những trường hợp bị chậm trễ do vướng thủ tục hành chính của cơ quan nhà nước, chưa được bàn giao đất trên thực địa, gặp sự kiện bất khả kháng hoặc đang thực hiện theo đúng tiến độ phân kỳ đầu tư đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

