Đề xuất hỗ trợ gia đình sinh 2 con gái: Cần thận trọng trong cách tiếp cận
Trong bối cảnh Việt Nam nhiều năm liên tiếp đối mặt với tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh, Bộ Y tế đang lấy ý kiến dự thảo Thông tư hướng dẫn một số nội dung về chính sách khuyến khích, khen thưởng và hỗ trợ đối với tập thể, cá nhân thực hiện tốt công tác dân số. Một trong những nội dung thu hút nhiều ý kiến trái chiều là đề xuất khuyến khích, hỗ trợ các gia đình sinh 2 con một bề là gái nuôi con khỏe, dạy con ngoan, học giỏi, thành đạt, cùng nhiều chính sách ưu tiên dành cho trẻ em gái ở các nhóm đối tượng đặc thù.

Ảnh minh họa: AI
Mục tiêu đúng
Nhiều chuyên gia cho rằng, mục tiêu giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh là đúng đắn và cần thiết. Tuy nhiên, nếu chính sách chỉ tập trung ưu tiên trẻ em gái hoặc gia đình có 2 con gái mà thiếu cách tiếp cận toàn diện thì rất dễ tạo ra những hệ lụy ngoài mong muốn, thậm chí đi ngược nguyên tắc bình đẳng giới mà Việt Nam đang theo đuổi.
Theo dự thảo, Bộ Y tế đề xuất nhiều hình thức khuyến khích nhằm thay đổi nhận thức về giới, trong đó có việc địa phương được quyết định các chính sách hỗ trợ gia đình sinh 2 con gái như tôn vinh, biểu dương, miễn giảm học phí, hỗ trợ bảo hiểm y tế học sinh, hỗ trợ sữa học đường hoặc các hình thức hỗ trợ khác.
Trao đổi với PV Báo PNVN, một chuyên gia về dân số và kế hoạch hóa gia đình cho rằng xuất phát điểm của chính sách là đáng ghi nhận khi hướng tới việc giảm tư tưởng trọng nam khinh nữ, một trong những nguyên nhân sâu xa dẫn đến mất cân bằng giới tính khi sinh.
Tuy nhiên, theo vị này, mọi chính sách về bình đẳng giới đều cần được xây dựng trên nguyên tắc không tạo ra sự ưu tiên tuyệt đối cho bất kỳ giới nào. "Chúng ta cần thay đổi định kiến xã hội rằng con gái cũng như con trai, chứ không phải chuyển sang tạo ra một dạng ưu tiên mới dành riêng cho con gái. Khi đó, thông điệp về bình đẳng rất dễ bị hiểu sai", vị chuyên gia phân tích.
Theo chuyên gia, bình đẳng giới không đồng nghĩa với việc ưu tiên giới từng chịu bất lợi trong mọi hoàn cảnh mà là tạo điều kiện để mọi trẻ em được tiếp cận các cơ hội phát triển như nhau.
Ở góc độ chính sách xã hội, vị chuyên gia cho rằng, mọi chính sách dành cho trẻ em đều có thể tạo ra những tác động tâm lý lâu dài nếu không được thiết kế hợp lý. Ông nhận định, nếu chỉ trẻ em gái được miễn giảm học phí, hỗ trợ bảo hiểm y tế hay hưởng các khoản hỗ trợ khác trong khi trẻ em trai có hoàn cảnh tương tự không được hưởng, rất dễ tạo ra cảm giác bị đối xử khác biệt.
"Trẻ em không lựa chọn giới tính của mình. Vì vậy, các em không nên phải chịu sự phân biệt trong tiếp cận chính sách chỉ vì là trai hay gái. Điều này đặc biệt đáng lưu ý trong trường học, nơi giáo dục về bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau luôn được đặt lên hàng đầu. Nếu một học sinh nhận thấy bạn nữ được hưởng nhiều chính sách hỗ trợ hơn chỉ vì giới tính, trong khi hoàn cảnh gia đình tương đương, rất có thể các em sẽ đặt câu hỏi về sự công bằng", vị chuyên gia phân tích.
Vị này cũng nhấn mạnh rằng, mục tiêu của Luật Bình đẳng giới là bảo đảm nam và nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực như nhau. Điều đó cũng đồng nghĩa trẻ em trai và trẻ em gái đều cần được tiếp cận các chính sách an sinh dựa trên nhu cầu thực tế, điều kiện kinh tế hoặc mức độ khó khăn, thay vì chỉ dựa trên giới tính.
"Nếu mục tiêu là hỗ trợ trẻ em vùng khó khăn thì nên hỗ trợ toàn bộ trẻ em thuộc diện đó. Một em trai và một em gái cùng sống trong hộ nghèo, cùng học ở vùng đặc biệt khó khăn nhưng chỉ em gái được nhận hỗ trợ thì rất khó lý giải về tính công bằng của chính sách", vị chuyên gia phân tích.
Theo ông, những chính sách mang tính khuyến khích có thể hướng tới thay đổi nhận thức của cha mẹ, cộng đồng hoặc địa phương, thay vì tạo sự khác biệt trực tiếp giữa trẻ em trai và trẻ em gái.

Ông Đặng Hoa Nam, Phó Chủ tịch Hội Bảo vệ quyền trẻ em Việt Nam, nguyên Cục trưởng Cục Trẻ em (Bộ LĐ-TB&XH).
Mọi trẻ em đều phải được bảo đảm quyền bình đẳng trong tiếp cận chính sách
Ông Đặng Hoa Nam, Phó Chủ tịch Hội Bảo vệ quyền trẻ em Việt Nam, nguyên Cục trưởng Cục Trẻ em (Bộ LĐ-TB&XH), cho rằng đề xuất hỗ trợ gia đình sinh 2 con gái cần được cân nhắc thận trọng để tránh phát sinh những hệ lụy về quyền trẻ em và bình đẳng giới.
Theo ông, việc quy định các chính sách khen thưởng, hỗ trợ học phí, dinh dưỡng dành riêng cho trẻ em gái hoặc gia đình sinh con một bề là gái cần được xem xét trên cơ sở các nguyên tắc của Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em. Trong đó, khẳng định trẻ em phải được bảo đảm quyền lợi "không có bất cứ sự phân biệt đối xử nào về chủng tộc, màu da, giới tính...". Đồng thời, Luật Trẻ em của Việt Nam cũng quy định nguyên tắc "không phân biệt đối xử với trẻ em trong bảo đảm thực hiện quyền và bổn phận của trẻ em".
Ông Nam nhấn mạnh, các chính sách như hỗ trợ học phí hay dinh dưỡng vốn được thiết kế nhằm bảo đảm mọi trẻ em đều có cơ hội phát triển bình đẳng, được chăm sóc sức khỏe và tiếp cận giáo dục chất lượng ngay từ những năm đầu đời. Vì vậy, nếu chỉ áp dụng cho một nhóm trẻ em dựa trên giới tính thì cần đánh giá kỹ về tính phù hợp với các nguyên tắc bảo vệ quyền trẻ em.
Nghiên cứu Luật Dân số và Nghị định số 168/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp tổ chức thi hành Luật Dân số, ông Nam cho biết chưa thấy quy định nào xác định việc giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh thông qua chính sách hỗ trợ riêng cho trẻ em gái hoặc gia đình sinh con gái.
"Thậm chí, Luật Dân số còn nghiêm cấm hành vi 'kỳ thị, phân biệt đối xử trong tiếp cận dịch vụ dân số'. Vì vậy, cần đặt ra câu hỏi liệu có nên xây dựng một chính sách mà việc tiếp cận hỗ trợ dựa trên giới tính của trẻ em hay không", ông nêu quan điểm.
Theo ông, thay vì áp dụng các chính sách hỗ trợ mang tính phân biệt theo giới tính, cơ quan quản lý nên ưu tiên các giải pháp truyền thông, vận động, giáo dục nhằm thay đổi nhận thức xã hội về bình đẳng giới và giảm thiểu tình trạng lựa chọn giới tính thai nhi, đúng với tinh thần của Điều 9 Luật Dân số về truyền thông, giáo dục trong công tác dân số.
Ông Đặng Hoa Nam cũng lưu ý rằng, mọi quy định có tác động trực tiếp đến quyền con người, quyền trẻ em cần được xem xét, điều chỉnh bằng luật do Quốc hội ban hành, thay vì chỉ quy định ở cấp nghị định hoặc thông tư, nhằm bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và sự thống nhất của hệ thống pháp luật.
Theo các chuyên gia, mọi chính sách dân số đều cần hướng tới lợi ích lâu dài của xã hội. Tuy nhiên, khi xây dựng các cơ chế khuyến khích, cơ quan soạn thảo cần đánh giá đầy đủ tác động đến các nhóm đối tượng khác nhau để tránh tạo ra cảm nhận về sự bất bình đẳng.











