Đề xuất không bị kết án lần thứ hai về tội đã được tuyên ở nước ngoài
Dự thảo Thông tư khẳng định không chuyển đổi hình phạt tù sang các loại hình phạt khác và người được tiếp nhận về Việt Nam không bị kết án lần thứ hai về tội đã được tuyên ở nước ngoài.
Bộ Công an đang lấy ý kiến đối với dự thảo Thông tư liên tịch quy định về chuyển đổi hình phạt tù theo Điều 25 của Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù.

Quang cảnh một phiên tòa hình sự tại TAND TP.HCM. Ảnh: SM
Không làm nặng hơn hình phạt đã tuyên
Theo dự thảo, việc chuyển đổi hình phạt tù phải bảo đảm tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc pháp lý. Trong đó, TAND có thẩm quyền sẽ xem xét có cần thiết phải chuyển đổi hình phạt tù hay không khi giải quyết yêu cầu chuyển giao.
Trường hợp mức hình phạt do Tòa án nước ngoài tuyên không phù hợp với quy định của Bộ luật Hình sự, Luật Tư pháp người chưa thành niên và pháp luật Việt Nam, thì phải thực hiện chuyển đổi cho phù hợp với tội phạm tương tự theo pháp luật trong nước.
Việc chuyển đổi được thực hiện trên cơ sở các tình tiết của vụ án đã được nêu trong bản án, quyết định của tòa án nước chuyển giao.
Hình phạt sau khi chuyển đổi không được nghiêm khắc hơn về tính chất và thời hạn so với hình phạt đã tuyên ở nước ngoài. Đồng thời, thời gian người bị kết án đã chấp hành án ở nước chuyển giao sẽ được trừ vào thời gian chấp hành án tại Việt Nam.
Dự thảo cũng khẳng định không chuyển đổi hình phạt tù sang các loại hình phạt khác và người được tiếp nhận về Việt Nam không bị kết án lần thứ hai về tội đã được tuyên ở nước ngoài.
Về quy trình xác định tội phạm và hình phạt, Bộ Công an là cơ quan có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ, căn cứ vào bản án của nước ngoài để xác định tội danh, điều luật áp dụng theo Bộ luật Hình sự và Luật Tư pháp người chưa thành niên.
Trong trường hợp cần thiết, Bộ Công an sẽ lấy ý kiến của TAND Tối cao và VKSND Tối cao; các cơ quan này phải có văn bản trả lời trong thời hạn 10 ngày. Trên cơ sở đó, TAND có thẩm quyền sẽ quyết định việc chuyển đổi hình phạt tù.
Quy định riêng với người chưa thành niên
Dự thảo cũng quy định cụ thể cách chuyển đổi hình phạt đối với từng nhóm đối tượng. Đối với người đã thành niên, trường hợp bị tuyên mức án trên 30 năm tù đối với nhiều tội, Tòa án Việt Nam có thể xem xét giới hạn thời gian chấp hành còn lại tối đa là 30 năm. Trường hợp bị tuyên trên 20 năm tù đối với một tội, mức chấp hành tối đa có thể được điều chỉnh xuống 20 năm.
Đối với người chưa thành niên, việc chuyển đổi hình phạt được thiết kế linh hoạt hơn theo độ tuổi và tính chất tội phạm.
Cụ thể, người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nếu bị tuyên tù chung thân có thể được chuyển đổi xuống mức tối đa 15 năm tù; trường hợp phạm các tội đặc biệt nghiêm trọng như giết người, hiếp dâm, hiếp dâm người dưới 16 tuổi; cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi; sản xuất trái phép chất ma túy, mức tối đa có thể lên đến 18 năm. Nếu bị phạt tù có thời hạn, mức chấp hành sau chuyển đổi không vượt quá ba phần năm hoặc ba phần tư khung hình phạt theo Bộ luật Hình sự, tùy từng trường hợp.
Đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi, mức chuyển đổi sẽ thấp hơn. Trường hợp bị tuyên tù chung thân, mức chấp hành tối đa lần lượt là 9 năm; trường hợp phạm các tội đặc biệt nghiêm trọng như giết người, hiếp dâm, sản xuất trái phép chất ma túy, mức tối đa lên đến 12 năm. Nếu là tù có thời hạn, mức chấp hành không vượt quá hai phần năm hoặc một phần hai khung hình phạt theo quy định của Bộ luật Hình sự, tùy từng trường hợp.
Dự thảo cũng quy định rõ việc trả tự do cho người đang chấp hành án. Theo đó, nếu Việt Nam đồng ý tiếp nhận và sau khi chuyển đổi, người đó đã chấp hành xong hình phạt tù, thì thẩm phán chủ trì phiên họp xem xét yêu cầu chuyển giao phải tuyên bố trả tự do ngay cho người được tiếp nhận.











