Đề xuất phân cấp nhiệm vụ lĩnh vực bảo trợ xã hội thuộc thẩm quyền của Bộ Y tế
Bộ Y tế đang lấy ý kiến dự thảo Thông tư quy định việc phân cấp thực hiện một số nhiệm vụ trong lĩnh vực bảo trợ xã hội thuộc thẩm quyền của Bộ Y tế, cho Cục Bảo trợ xã hội.
Dự thảo Thông tư gồm 04 điều, tập trung quy định phạm vi phân cấp và của Bộ trưởng Bộ Y tế cho Cục Bảo trợ xã hội trong thực hiện một số nhiệm vụ quản lý nhà nước thuộc lĩnh vực bảo trợ xã hội. Trong đó, Điều 2 của dự thảo Thông tư thực hiện phân cấp 11 nhóm nhiệm vụ trọng tâm cho Cục Bảo trợ xã hội, tập trung vào các lĩnh vực chuyên môn sâu và có tính chất triển khai trực tiếp.
Cụ thể, trong lĩnh vực người khuyết tật, Cục được giao thực hiện rà soát, thống kê, đánh giá thực trạng các công trình chưa bảo đảm điều kiện tiếp cận và hướng dẫn phương pháp, chỉ tiêu giám sát việc cải tạo công trình công cộng.
Trong lĩnh vực công tác xã hội, Cục thực hiện quản lý thống nhất việc cấp, cấp lại và thu hồi giấy chứng nhận đăng ký hành nghề công tác xã hội theo quy định. Đối với lĩnh vực trợ giúp xã hội, Cục chủ trì tổng hợp nhu cầu hỗ trợ của địa phương từ nguồn dự trữ quốc gia, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

Bộ Y tế đề xuất phân cấp thực hiện nhiệm vụ lĩnh vực bảo trợ xã hội thuộc thẩm quyền cho Cục Bảo trợ.
Bên cạnh đó, Cục được giao chủ trì, phối hợp hướng dẫn quy hoạch, phát triển mạng lưới cơ sở trợ giúp xã hội và xây dựng các mô hình điểm. Trong lĩnh vực phòng, chống mại dâm, Cục tham gia phối hợp xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách, kế hoạch liên quan, đồng thời không thực hiện phân cấp đối với hoạt động kiểm tra các cơ sở kinh doanh dịch vụ dễ bị lợi dụng cho hoạt động mại dâm.
Đối với công tác phòng, chống mua bán người, Cục thực hiện các nhiệm vụ như hướng dẫn phát hiện, báo cáo các trường hợp có dấu hiệu mua bán người; hướng dẫn hỗ trợ tâm lý cho nạn nhân; ban hành quy trình, tiêu chuẩn, chất lượng dịch vụ hỗ trợ; đồng thời hướng dẫn sàng lọc và can thiệp sớm đối với các nhóm có nguy cơ.
Ngoài ra, Cục Bảo trợ xã hội được giao thực hiện nhiệm vụ kiểm tra chuyên ngành trong lĩnh vực bảo trợ xã hội theo quy định của pháp luật (trừ nội dung đặc thù về phòng, chống mại dâm), đồng thời làm đầu mối tổng hợp, trả lời các kiến nghị, khó khăn, vướng mắc của các bộ, ngành và địa phương trong phạm vi chuyên môn được phân cấp. Việc phân cấp này nhằm bảo đảm rõ trách nhiệm, tăng tính chủ động và nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện chính sách trong lĩnh vực bảo trợ xã hội.
Theo đó, dự thảo phân cấp các lĩnh vực, cụ thể:
1. Rà soát, thống kê đánh giá thực trạng nhà chung cư; công trình công cộng chưa bảo đảm điều kiện tiếp cận đối với người khuyết tật theo từng loại công trình, hướng dẫn phương pháp, chỉ tiêu giám sát đánh giá việc thực hiện lộ trình cải tạo công trình công cộng theo quy định tại khoản 3, Điều 13 Nghị định số 28/2012/NĐ-CP ngày 10/4/2012 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật người khuyết tật.
2. Quản lý thống nhất việc cấp, cấp lại, thu hồi giấy chứng nhận đăng ký hành nghề công tác xã hội theo quy định tại điểm d, khoản 1, Điều 45 Nghị định số 110/2024/NĐ-CP ngày 30/8/2024 của Chính phủ về công tác xã hội.
3. Chủ trì, phối hợp với các bộ quản lý hàng dự trữ quốc gia tổng hợp nhu cầu hỗ trợ của địa phương, báo cáo Thủ tướng Chính phủ theo quy định tại điểm g, khoản 2, Điều 12 Nghị định số 20/2021/NĐ-CP ngày 15/3/2021 của Chính phủ quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội.
4. Chủ trì, phối hợp hướng dẫn quy hoạch, phát triển mạng lưới cơ sở trợ giúp xã hội và xây dựng mô hình điểm cơ sở trợ giúp xã hội theo quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 49 Nghị định 103/2017/NĐ-CP ngày 12/9/2017 của Chính phủ quy định về thành lập, tổ chức, hoạt động, giải thể và quản lý các cơ sở trợ giúp xã hội.
5. Phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách, kế hoạch về phòng, chống mại dâm theo quy định tại Điều 32 Pháp lệnh Phòng, chống mại dâm số 10/2003/PL-UBTVQH11 và khoản 5, khoản 6, khoản 9 Điều 25 Nghị định số 178/2004/NĐ-CP ngày 15/10/2004 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh phòng, chống mại dâm.
6. Phối hợp với đơn vị chuyên môn thuộc Bộ Công an hướng dẫn cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phát hiện, báo cáo, cung cấp thông tin trường hợp có dấu hiệu mua bán người, mua bán bộ phận cơ thể người, thỏa thuận mua bán người từ khi còn đang là bào thai theo quy định tại điểm đ, khoản 3, Điều 2, của Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật hình sự số 86/2025/QH15.
7. Hướng dẫn về hỗ trợ tâm lý đối với nạn nhân, người đang trong quá trình xác định là nạn nhân và người dưới 18 tuổi đi cùng quy định tại điểm đ, khoản 3, Điều 2, của Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật hình sự số 86/2025/QH15.
8. Hướng dẫn quy trình, tiêu chuẩn, chất lượng dịch vụ hỗ trợ nạn nhân quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 45 Nghị định số 162/2025/NĐ-CP ngày 29/6/2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phòng, chống mua bán người.
9. Hướng dẫn sàng lọc và can thiệp sớm đối với nhóm có dấu hiệu bị mua bán quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 45 Nghị định số 162/2025/NĐ-CP ngày 29/6/2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phòng, chống mua bán người.
10. Thực hiện nhiệm vụ kiểm tra chuyên ngành thuộc lĩnh vực bảo trợ xã hội được quy định tại khoản 1 Điều 6 Nghị định số 217/2025/NĐ-CP ngày 05/8/2025 của Chính phủ về hoạt động kiểm tra chuyên ngành (Trừ kiểm tra chuyên ngành về phòng, chống mại dâm đối với các cơ sở kinh doanh dịch vụ dễ bị lợi dụng hoạt động mại dâm quy định tại khoản 3, điều 3 Nghị định số 178/2004/NĐ-CP ngày 15/10/2004 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh phòng, chống mại dâm).
11. Trả lời kiến nghị, khó khăn, vướng mắc của Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trong phạm vi chuyên môn thuộc lĩnh vực bảo trợ xã hội theo quy định của pháp luật.











