Đề xuất quản lý cấp, thoát nước không theo địa giới hành chính
Dự thảo Tờ trình chính sách dự án Luật Cấp, thoát nước đề xuất quản lý hệ thống theo vùng cấp nước, lưu vực thoát nước, không chia cắt công trình theo địa giới hành chính; đồng thời mở rộng nguồn lực đầu tư. Góp ý chính sách, cộng đồng doanh nghiệp đề nghị làm rõ trách nhiệm và tăng tính linh hoạt trong vận hành, nhất là khi xảy ra tình huống khẩn cấp.
Quản lý theo vùng, lưu vực, khu vực
Dự án Luật Cấp, thoát nước đã được đưa vào Chương trình lập pháp năm 2027. Hiện, Bộ Xây dựng đang lấy ý kiến góp ý các chính sách của dự án Luật Cấp, thoát nước. Theo dự thảo Tờ trình chính sách, dự án Luật dự kiến điều chỉnh các hoạt động cấp nước, thoát nước; cung cấp, sử dụng dịch vụ cấp, thoát nước; giá nước sạch, giá dịch vụ thoát nước; chuyển đổi số; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong lĩnh vực này.
Theo đó, chính sách 1 tập trung phát triển hệ thống cấp, thoát nước đồng bộ, thống nhất, hiệu quả theo chiến lược, quy hoạch và kế hoạch. Chính sách đề xuất quản lý theo vùng cấp nước, vùng phục vụ cấp nước, lưu vực thoát nước và khu vực thoát nước; không chia cắt công trình theo địa giới hành chính; tăng cường liên kết vùng, liên tỉnh, giữa đô thị và nông thôn.

Bộ Xây dựng đang lấy ý kiến góp ý các chính sách của dự án Luật Cấp, thoát nước. Ảnh: VC
Đồng thời, hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu về cấp, thoát nước sẽ được xây dựng thống nhất, liên thông từ Trung ương đến địa phương, phục vụ công tác quản lý, đầu tư, vận hành, giám sát chất lượng dịch vụ và cảnh báo rủi ro. Kế hoạch phát triển cấp, thoát nước cấp tỉnh sẽ cụ thể hóa các mục tiêu, nhu cầu, danh mục dự án, nguồn lực và tiến độ thực hiện, nhưng không thay thế quy hoạch, quyết định đầu tư hoặc kế hoạch đầu tư công.
Chính sách 2 tập trung nâng cao hiệu quả quản lý, vận hành và khai thác hệ thống cấp, thoát nước. Chính sách hướng tới nâng cao năng lực của đơn vị cấp, thoát nước trong vận hành, khai thác công trình và cung cấp dịch vụ; kiểm soát thất thoát, thất thu nước sạch; bảo đảm chất lượng, áp lực, lưu lượng và tính liên tục của dịch vụ; nâng cao hiệu quả thu gom, xử lý nước thải, chống ngập và quản lý bùn thải. Đồng thời, tăng cường quản lý rủi ro, bảo đảm an ninh, an toàn cấp nước, ứng phó với sự cố, thiên tai, biến đổi khí hậu và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số.
Mở rộng nguồn lực cho chống ngập, xử lý nước thải
Chính sách 3 hướng tới bảo đảm nguồn lực phát triển cấp, thoát nước. Nhà nước sẽ huy động đa dạng nguồn lực, gồm ngân sách nhà nước, vốn đầu tư công, vốn doanh nghiệp, tín dụng, đầu tư theo phương thức đối tác công - tư (PPP) và các nguồn hợp pháp khác; ưu tiên công trình liên vùng, liên tỉnh, công trình dự phòng, khu vực khó khăn, vùng khan hiếm nước, cũng như các công trình chống ngập, thu gom và xử lý nước thải.
Đáng chú ý, chính sách đề xuất thu hút khu vực tư nhân tham gia đầu tư vào thoát nước, chống ngập, thu gom, xử lý và tái sử dụng nước thải thông qua PPP và các hình thức hợp pháp khác. Đối với giá nước sạch và giá dịch vụ thoát nước, Luật chỉ quy định nguyên tắc, yêu cầu về chất lượng dịch vụ và các yếu tố chi phí đặc thù; việc định giá thực hiện theo pháp luật về giá.
Chính sách cũng ưu tiên bảo đảm khả năng tiếp cận dịch vụ của người dân tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và các khu vực chịu tác động của hạn hán, xâm nhập mặn, thiên tai.
Cần rõ trách nhiệm trong vận hành và đầu tư
Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho rằng các đề xuất chính sách này cơ bản hợp lý, tương đối toàn diện, bao quát những vấn đề cốt lõi của hoạt động cấp, thoát nước. Tuy nhiên, để khung chính sách mới có thể xử lý những vướng mắc trong thực tế, nhiều quy định về phối hợp, vận hành, đầu tư và trách nhiệm của các bên cần tiếp tục được làm rõ.
Trước hết là trách nhiệm bảo vệ nguồn nước và hệ thống cấp, thoát nước. VCCI đề nghị tăng phối hợp liên ngành trong bảo vệ nguồn nước thô, đới phòng hộ lấy nước; thiết lập cơ chế cảnh báo sớm và chia sẻ dữ liệu quan trắc nguồn nước mặt theo thời gian thực giữa cơ quan quản lý với đơn vị cấp nước.
Đối với các công trình giao thông, điện lực, viễn thông khi thi công giao cắt hoặc ảnh hưởng đến hành lang bảo vệ công trình cấp, thoát nước, VCCI đề nghị phải có thỏa thuận về giải pháp kỹ thuật và sự giám sát trực tiếp của đơn vị vận hành. Chủ đầu tư dự án cũng cần bố trí chi phí bồi thường, di dời, hoàn trả và bảo đảm công năng của công trình cấp, thoát nước bị ảnh hưởng, hạn chế nguy cơ gián đoạn dịch vụ.
Góp ý chính sách 2, VCCI đề nghị tăng tính chủ động cho đơn vị cấp nước khi xảy ra sự cố hoặc nhu cầu sử dụng tăng đột biến. Theo đề xuất, trong tình huống khẩn cấp, đơn vị cấp nước có thể được phép khai thác vượt ngưỡng cấp phép hoặc tăng lưu lượng khai thác ngày 10 - 20%, với điều kiện tổng lượng khai thác cả năm không vượt mức được phép; đồng thời áp dụng cơ chế “xử lý trước, báo cáo sau” để kịp thời khắc phục sự cố.
Để tránh việc áp dụng tùy nghi, VCCI cho rằng cần định nghĩa rõ thế nào là tình huống khẩn cấp, cấp bách và xây dựng tiêu chí kỹ thuật làm căn cứ cho địa phương xem xét, phê duyệt phương án.
Trách nhiệm về chất lượng nước cũng cần được phân định rõ theo từng khâu. VCCI đề xuất đơn vị cấp nước chịu trách nhiệm về chất lượng nước tại điểm đấu nối hoặc đồng hồ nước. Sau điểm này, chất lượng nước tại vòi sử dụng còn phụ thuộc vào hệ thống đường ống, bể chứa bên trong tòa nhà hoặc hộ gia đình và thuộc trách nhiệm kiểm soát của khách hàng.
Về cơ chế giá, VCCI đề nghị bảo đảm nguyên tắc tính đúng, tính đủ các chi phí hợp lý, hợp lệ và lợi nhuận định mức; có cơ chế rà soát giá hàng năm. Trường hợp Nhà nước quyết định duy trì mức giá thấp hơn phương án tính đúng, tính đủ để thực hiện mục tiêu an sinh xã hội hoặc kiềm chế lạm phát, doanh nghiệp đề xuất có cơ chế cấp bù kịp thời.
Ở khâu tổ chức thực hiện, VCCI đề nghị quy định chặt chẽ điều kiện bàn giao tài sản, tăng liên thông dữ liệu nhưng đồng thời bảo đảm an toàn, bảo mật hệ thống SCADA và dữ liệu liên quan đến các công trình cấp nước đặc biệt quan trọng.
Có lộ trình chuyển tiếp đủ dài
Cộng đồng doanh nghiệp đề nghị có lộ trình chuyển tiếp đủ dài để các đơn vị đang hoạt động thích ứng với khung pháp lý mới. Theo đó, thời gian chuyển tiếp được đề xuất tối thiểu 36 tháng kể từ khi Luật Cấp, thoát nước có hiệu lực dự kiến ngày 1/1/2028.
Dự án Luật cũng cần có quy định xử lý đối với các hợp đồng BOO đã ký trước thời điểm Luật có hiệu lực và các đơn vị đang thực tế cung cấp nước nhưng chưa được giao vùng phục vụ chính thức.
