Kiểm toán nhà nước chỉ ra nguyên nhân làm tăng tổng mức đầu tư Dự án cao tốc Mỹ An - Cao Lãnh
Kiểm toán nhà nước (KTNN) vừa công khai kết quả kiểm toán hoạt động xây dựng và việc quản lý, sử dụng vốn đầu tư Dự án đầu tư xây dựng công trình đường cao tốc Mỹ An - Cao Lãnh giai đoạn 1. Kết quả kiểm toán cho thấy còn một số tồn tại trong công tác chuẩn bị đầu tư, khảo sát, thiết kế kỹ thuật, xử lý nền đất yếu, khai thác mỏ vật liệu theo cơ chế đặc thù và quản lý, giải ngân nguồn vốn vay ODA.
Dự án đầu tư xây dựng công trình đường cao tốc Mỹ An - Cao Lãnh giai đoạn 1 (Dự án Mỹ An - Cao Lãnh) được đầu tư nhằm từng bước hoàn thiện mạng lưới giao thông đường bộ khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, hoàn thiện tuyến cao tốc Bắc - Nam phía Tây, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh khu vực. Dự án có chiều dài 26,6 km, tổng mức đầu tư 6.127,819 tỷ đồng, sử dụng vốn vay ODA của Chính phủ Hàn Quốc thông qua Quỹ Hợp tác phát triển kinh tế (EDCF) và vốn đối ứng trong nước.

Thi công cầu Trà Bông trên cao tốc Mỹ An - Cao Lãnh. (Ảnh: Bộ Xây dựng)
Cuộc kiểm toán được KTNN chuyên ngành IV thực hiện từ ngày 04/3/2026 đến ngày 27/4/2026 theo Quyết định số 218/QĐ-KTNN ngày 26/02/2026 của Tổng Kiểm toán nhà nước. KTNN kiến nghị xử lý tài chính 182,2 triệu đồng và tổng số kiến nghị xử lý khác 2.940,4 triệu đồng.
Công tác chuẩn bị đầu tư dự án còn một số tồn tại
Theo kết quả kiểm toán, công tác lập, thẩm định và phê duyệt Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi điều chỉnh và Báo cáo nghiên cứu khả thi còn một số tồn tại.
Thời gian thẩm định Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi và Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi điều chỉnh chậm khoảng 60 ngày so với quy định; Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi chưa đầy đủ nội dung về các hoạt động thực hiện trước.
Báo cáo nghiên cứu khả thi chưa đánh giá đầy đủ phương án kết nối hạ tầng kỹ thuật trong và ngoài phạm vi dự án. Công tác khảo sát lập dự án mới thu thập thông tin về trữ lượng các mỏ vật liệu, chưa đánh giá đầy đủ khả năng cung ứng và chất lượng vật liệu xây dựng.
Thiết kế cơ sở còn một số nội dung chưa có cơ sở lựa chọn phương án tối ưu, như xác định tĩnh không cầu Nguyễn Văn Tiếp A chưa phù hợp với cấp kỹ thuật đường thủy nội địa; thiết kế cầu vượt ĐT.846 chưa phù hợp với quy hoạch Quốc lộ 30B; chưa phân tích, so sánh phương án sử dụng tường đầu, tường cánh cống bằng đá xây dựng về giải pháp kinh tế - kỹ thuật.
Công tác lập, thẩm định và phê duyệt tổng mức đầu tư còn sai sót trong xác định khối lượng, đơn giá và một số khoản mục chi phí, làm tăng tổng mức đầu tư khoảng 83,238 tỷ đồng.
Khảo sát, thiết kế còn bất cập, dự toán tăng hơn 61 tỷ đồng
Đối với công tác khảo sát, thiết kế kỹ thuật và lập dự toán, KTNN xác định còn nhiều tồn tại. Đề cương khảo sát địa chất nền đất yếu chưa hướng dẫn việc lấy mẫu tại các lỗ khoan trên mặt cắt ngang nền đường để làm cơ sở xác định khối lượng, lập dự toán và tổ chức thực hiện khảo sát; một số nội dung khảo sát chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu phục vụ thiết kế.
Hồ sơ thiết kế kỹ thuật còn nhiều nội dung chưa bảo đảm cơ sở lựa chọn giải pháp kinh tế - kỹ thuật. Thiết kế nền đường và xử lý nền đất yếu còn tồn tại trong việc xác định phạm vi xử lý, bố trí trụ xi măng đất và chưa xem xét yêu cầu mở rộng tuyến trong giai đoạn hoàn chỉnh; hồ sơ xử lý nền bằng trụ xi măng đất chưa thể hiện đầy đủ các thông số phục vụ thi công và kiểm soát chất lượng.
Giải pháp thi công cống trên nền đất yếu chưa được thuyết minh, đánh giá đầy đủ. Công tác tính toán thủy văn, thiết kế cầu, cống và một số công trình trên tuyến còn những nội dung chưa được nghiên cứu, phân tích đầy đủ làm cơ sở lựa chọn phương án thiết kế.
Công tác lập, thẩm tra, thẩm định và phê duyệt dự toán còn nhiều sai sót trong xác định khối lượng, áp dụng định mức, đơn giá và tính toán chi phí, làm tăng giá trị dự toán khoảng 61,086 tỷ đồng. Đồng thời, giá trị dự toán gói thầu tư vấn khảo sát, lập thiết kế kỹ thuật, dự toán sau hiệu chỉnh thấp hơn giá trị hợp đồng đã ký khoảng 119,6 triệu đồng.
Khai thác mỏ vật liệu còn thiếu nghĩa vụ tài chính
Việc thực hiện các cơ chế, chính sách đặc thù của Quốc hội, Chính phủ về khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường phục vụ thi công dự án còn một số tồn tại trong việc xác định nhu cầu vật liệu, thực hiện trình tự, thủ tục cấp mỏ, thực hiện nghĩa vụ tài chính và công bố giá vật liệu.
Đối với Dự án Mỹ An - Cao Lãnh, các nhà thầu chưa thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính đối với các mỏ cát được cấp theo cơ chế đặc thù, gồm chưa nộp tiền thuê mặt nước tại các mỏ Long Khánh A, Long Khánh B, Phú Thuận B; mỏ Định An chưa thực hiện ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường và chưa nộp tiền thuê mặt nước.
Đến thời điểm kiểm toán, cơ quan có thẩm quyền chưa ban hành giá vật liệu khai thác theo cơ chế đặc thù tại các mỏ đã cấp phép.
Trong công tác lựa chọn nhà thầu, việc phân chia gói thầu, xác định giá gói thầu và thời gian lựa chọn nhà thầu của một số gói chưa phù hợp với tiến độ thực hiện dự án; một số gói thầu tổ chức lựa chọn nhà thầu, ký kết hợp đồng chậm so với kế hoạch được duyệt.
Hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu của một số gói thầu còn quy định chưa đầy đủ, chưa thống nhất về điều kiện hợp đồng, trong đó một số nội dung về tạm ứng, thu hồi tạm ứng, thanh toán chưa được quy định rõ. Công tác thẩm định hồ sơ mời thầu chưa phát hiện, xử lý kịp thời các nội dung chưa phù hợp trước khi phát hành.
Công tác thương thảo, ký kết và quản lý hợp đồng còn tồn tại trong việc thống nhất các điều khoản hợp đồng; một số nội dung giữa hồ sơ mời thầu, biên bản thương thảo và hợp đồng ký kết có sự khác nhau. Giá trị dự toán sau hiệu chỉnh của một số gói thầu thấp hơn giá trị hợp đồng đã ký. Đối với các gói thầu di chuyển công trình công cộng, chủ đầu tư chưa thực hiện xử lý vật tư, thiết bị thu hồi sau khi các bên kiểm tra, xác nhận theo quy định.
Vốn ODA còn vướng mắc trong quản lý, thanh toán
Đối với việc chấp hành chế độ tài chính, kế toán, KTNN xác định hồ sơ, tài liệu của Gói thầu số 07 chưa quy định đầy đủ trách nhiệm của chủ đầu tư và nhà thầu trong quản lý, sử dụng vốn tạm ứng đúng mục đích, đúng đối tượng.
Lũy kế kế hoạch vốn được giao nhưng không sử dụng hết phải hủy còn lớn, khoảng 651,687 tỷ đồng, trong đó vốn vay ODA khoảng 635,040 tỷ đồng. Chủ đầu tư chưa lập, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt Kế hoạch tổng thể và Kế hoạch hằng năm thực hiện dự án theo quy định về quản lý, sử dụng vốn ODA; chậm từ 6 đến 23 ngày trong việc lập hồ sơ đề nghị ghi thu, ghi chi đối với số vốn vay đã giải ngân.
Ngoài ra, cơ chế thanh toán của Gói thầu số 07 theo hợp đồng, trong đó thanh toán riêng phần ngoại tệ (KRW) cho nhà thầu nước ngoài và phần nội tệ (VNĐ) cho nhà thầu trong nước, phát sinh vướng mắc trong việc áp dụng quy định về quản lý ngoại hối và thanh toán vốn vay ODA.
Giải phóng mặt bằng chưa hoàn thành
Công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và giải phóng mặt bằng của Dự án Mỹ An - Cao Lãnh còn một số tồn tại. UBND tỉnh Đồng Tháp chưa ban hành quyết định phê duyệt Tiểu dự án giải phóng mặt bằng; chưa có hướng dẫn xác định khối lượng, loại tài sản và đơn giá bồi thường đối với một số tài sản, vật kiến trúc có hiện trạng đặc thù, chìm khuất.
Một số phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được phê duyệt sau ngày 01/7/2025 vẫn áp dụng đơn giá đất cụ thể do UBND cấp huyện trước đây ban hành. Hồ sơ của một số hộ chưa đầy đủ thông tin về nhà, đất, tài sản; chưa lập dự toán, xác định đơn giá đối với ống nhựa PVC chôn dưới đất.
Giá trị tạm ứng kinh phí quá thời hạn chưa thu hồi là 2,364 tỷ đồng; chưa có cơ sở phân bổ kinh phí tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho từng chủ dự án.
Tiến độ giải phóng mặt bằng chậm; đến ngày 31/3/2026 còn hạng mục di dời đường dây điện 220kV chưa thực hiện, còn 1 hộ chưa bàn giao mặt bằng tại nhánh Ramp nút giao ĐT.846.
Kiến nghị chấn chỉnh quản lý dự án, vốn ODA
Từ những tồn tại, hạn chế nêu trên, KTNN kiến nghị các đơn vị được kiểm toán: Hoàn thiện các thủ tục liên quan đến khai thác các mỏ vật liệu theo cơ chế đặc thù; thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính đối với các mỏ được cấp phép; rà soát, điều chỉnh các sai sót trong khảo sát, thiết kế, dự toán và quản lý chi phí đầu tư; chấn chỉnh công tác lựa chọn nhà thầu, quản lý hợp đồng, nghiệm thu, thanh toán; khẩn trương hoàn thành công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, di dời hạ tầng kỹ thuật, bảo đảm bàn giao toàn bộ mặt bằng phục vụ thi công; chấn chỉnh công tác quản lý, sử dụng vốn ODA; thực hiện đầy đủ việc lập kế hoạch, ghi thu, ghi chi, quản lý tạm ứng theo quy định; thực hiện đầy đủ các kiến nghị xử lý tài chính số tiền 182,2 triệu đồng và kiến nghị xử lý khác 2.940,4 triệu đồng.
Về hoàn thiện cơ chế, chính sách, KTNN kiến nghị Bộ Xây dựng nghiên cứu, rà soát, sửa đổi, bổ sung hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn, hướng dẫn kỹ thuật về khảo sát, thiết kế, thi công và nghiệm thu công trình giao thông, bảo đảm thống nhất trong áp dụng đối với các công trình xử lý nền đất yếu bằng trụ xi măng đất. Trong đó, nghiên cứu hoàn thiện quy định về kiểm tra, đánh giá và nghiệm thu chất lượng trụ xi măng đất; rà soát, bảo đảm tính thống nhất giữa TCVN 9906:2014 và BS 8006-1:2010 trong việc xác định các thông số thiết kế, như cường độ tính toán của vải địa kỹ thuật, lưới địa kỹ thuật, mô đun đàn hồi và các chỉ tiêu phục vụ tính toán kết cấu nền đường.
KTNN cũng kiến nghị Bộ Xây dựng phối hợp với Bộ Tài chính rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định về điều kiện hợp đồng, điều kiện cụ thể và mẫu hợp đồng xây dựng tại Thông tư số 02/2023/TT-BXD và các quy định về mẫu hồ sơ mời thầu điện tử, điều kiện hợp đồng trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia, bảo đảm thống nhất trong quá trình lựa chọn nhà thầu, ký kết và quản lý thực hiện hợp đồng xây dựng sử dụng vốn đầu tư công.
Đối với Bộ Tài chính, KTNN kiến nghị nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế quản lý, thanh toán đối với các hợp đồng sử dụng vốn vay ODA, đặc biệt đối với các hợp đồng có thành viên liên danh trong nước và nước ngoài, tạo cơ sở thống nhất trong quá trình giải ngân, thanh toán và kiểm soát chi theo quy định của pháp luật và điều kiện của nhà tài trợ./.
