Đề xuất quy định về hệ thống thông tin quản lý thuế
Tại dự thảo dự thảo Luật Quản lý thuế, Bộ Tài chính đề xuất quy định về ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong quản lý thuế.

Bộ Tài chính đề xuất quy định về ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong quản lý thuế
Cụ thể, Bộ Tài chính đề xuất bổ sung một chương mới về ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong quản lý thuế gồm 03 Điều: Nguyên tắc chuyển đổi số trong quản lý thuế (tại Điều 49); hệ thống thông tin quản lý thuế (tại Điều 50); bảo đảm an toàn thông tin và quản lý rủi ro công nghệ (tại Điều 51).
Nguyên tắc chuyển đổi số trong quản lý thuế
Cơ quan quản lý thuế thực hiện chuyển đổi số, tự động hóa công tác quản lý dựa trên ứng dụng khoa học, công nghệ và dữ liệu lớn.
Giao dịch giữa người nộp thuế và cơ quan quản lý thuế được thực hiện bằng phương thức điện tử thông qua hệ thống thông tin quản lý thuế, trừ một số trường hợp đặc biệt do Chính phủ quy định.
Cơ quan, tổ chức sử dụng chứng từ điện tử do cơ quan quản lý thuế cung cấp và không được yêu cầu người nộp thuế xuất trình chứng từ bằng giấy trong trường hợp dữ liệu đã có trong cơ sở dữ liệu dùng chung của cơ quan nhà nước.
Nhà nước bảo đảm các nguồn lực tài chính cho chuyển đổi số trong quản lý thuế trong đó bố trí ngân sách nhà nước hằng năm để xây dựng và vận hành hệ thống công nghệ thông tin, hóa đơn điện tử, cơ sở vật chất, thu nhập, phúc lợi, đào tạo, trang thiết bị và các nhiệm vụ chuyên môn phục vụ công tác để nâng cao hiệu quả quản lý thuế. Bộ Tài chính đề xuất giao Chính phủ quy định chi tiết khoản này.
Lý do Bộ Tài chính đề xuất quy định trên nhằm đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa quản lý thuế, tối ưu hóa quy trình nghiệp vụ, nâng cao chất lượng phục vụ và giảm chi phí tuân thủ cho người nộp thuế; đồng thời nâng cao hiệu quả, minh bạch và khả năng giám sát của cơ quan thuế.
Hệ thống thông tin quản lý thuế
Theo dự thảo, hệ thống thông tin quản lý thuế xử lý tập trung, tích hợp; cung cấp các dịch vụ công trực tuyến toàn trình, dịch vụ số cho người nộp thuế; đảm bảo thu thập, xử lý, lưu trữ, cập nhật và quản lý thông tin, dữ liệu chính xác, đầy đủ, kịp thời. Toàn bộ quá trình này được ghi nhận, lưu lịch sử trên hệ thống.
Cơ sở dữ liệu về thuế được xây dựng, phát triển và vận hành trên nền tảng dữ liệu số, kết nối và đồng bộ với hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu của các Bộ, ngành, các tổ chức hợp tác quốc tế và tổ chức có liên quan. Cơ quan quản lý thuế được quyền thu thập, tiếp cận, sử dụng và mua sắm các cơ sở dữ liệu thương mại có sẵn trên thị trường.
Bộ Tài chính quy định tiêu chuẩn kỹ thuật, xây dựng hạ tầng công nghệ thông tin phục vụ kết nối, trao đổi thông tin, chia sẻ dữ liệu với các bên liên quan theo quy định của pháp luật. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, chính quyền địa phương và các đơn vị liên quan có trách nhiệm xây dựng, triển khai hệ thống công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu kết nối, trao đổi thông tin thông qua nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu quốc gia theo quy định và đảm bảo tính chính xác, đầy đủ, kịp thời của dữ liệu cung cấp.
Cơ quan quản lý thuế sử dụng hệ thống thông tin quản lý thuế để ban hành các văn bản, thông báo, quyết định hành chính thuế tự động trên cơ sở quy trình nghiệp vụ, các tiêu chí quản lý và dữ liệu trên hệ thống. Các văn bản, thông báo, quyết định hành chính thuế tự động được ký bằng chữ ký số của cơ quan quản lý thuế và có giá trị pháp lý như văn bản giấy. Quá trình xử lý tự động được ghi nhận, lưu lịch sử trên hệ thống thông tin quản lý thuế và cho phép người nộp thuế tra cứu hoặc yêu cầu làm rõ các thông tin liên quan.
Bộ Tài chính giải thích lý do của đề xuất trên: Việc quy định rõ ràng về Hệ thống thông tin quản lý thuế nhằm thể chế hóa chủ trương chuyển đổi số quốc gia, nâng cao hiệu quả quản lý, giảm thủ tục hành chính và tăng tính minh bạch. Hiện đại hóa quản lý: Cho phép xử lý nghiệp vụ tập trung, đồng bộ, tận dụng phân tích dữ liệu lớn để hỗ trợ ra quyết định. Nâng cao tiện ích cho người nộp thuế: Cung cấp dịch vụ công trực tuyến toàn trình, giảm thời gian và chi phí tuân thủ.Tính pháp lý của giao dịch số: Bảo đảm văn bản tự động có giá trị pháp lý, giúp tăng tốc xử lý và giảm tiếp xúc trực tiếp. Tăng khả năng phối hợp liên ngành: Kết nối, chia sẻ dữ liệu với các CSDL quốc gia và cơ sở dữ liệu chuyên ngành. Quy định trách nhiệm Nhà nước bảo đảm ngân sách và quyền của cơ quan thuế trong tiếp cận, mua sắm dữ liệu giúp bảo đảm hệ thống vận hành ổn định, an toàn và lâu dài.
Bảo đảm an toàn thông tin và quản lý rủi ro công nghệ
Theo dự thảo, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, chính quyền địa phương, các đơn vị có liên quan và cơ quan quản lý thuế có trách nhiệm:
- Bảo đảm an toàn, an ninh mạng và bảo mật thông tin người nộp thuế trong toàn bộ quá trình xây dựng, triển khai và vận hành hệ thống thông tin phục vụ công tác quản lý thuế;
- Thực hiện quản lý rủi ro công nghệ trong công tác quản lý thuế;
- Đảm bảo đầy đủ quyền lợi, nghĩa vụ của người nộp thuế trong trường hợp xảy ra sự cố công nghệ, không làm gián đoạn việc thực hiện nghĩa vụ thuế của người nộp thuế.
Trường hợp phát sinh sự cố kỹ thuật của hệ thống thông tin quản lý thuế dẫn đến người nộp thuế không thể thực hiện được nghĩa vụ thuế theo đúng thời hạn quy định thì người nộp thuế không bị xử phạt vi phạm hành chính về thuế, không tính tiền chậm nộp tiền thuế trong thời gian xảy ra sự cố.
Chính phủ quy định chi tiết quy định này.
Lý do Bộ Tài chính đưa ra đề xuất trên nhằm nâng cao độ tin cậy, an toàn và khả năng chống chịu của hệ thống thông tin quản lý thuế, giảm thiểu rủi ro công nghệ và đảm bảo quyền lợi hợp pháp của người nộp thuế khi phát sinh sự cố kỹ thuật.
Mời bạn đọc xem toàn văn dự thảo và góp ý tại đây.