Đề xuất thuế suất 0,2% với đất bỏ hoang, tránh trùng lặp nghĩa vụ tài chính
Theo tờ trình dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, Luật Thuế thu nhập cá nhân do Bộ trưởng Tài chính Ngô Văn Tuấn trình Quốc hội sáng 23-10, đất bỏ hoang bị đề xuất áp dụng mức thuế suất 0,2% trên giá trị đất (theo bảng giá đất do Nhà nước ban hành).

Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính Phan Văn Mãi trình bày báo cáo thẩm tra sáng 23-10. Ảnh: QUANG PHÚC
Tờ trình nêu rõ, chính sách thuế sử dụng đất phi nông nghiệp hiện hành đã có quy định liên quan đến sử dụng tiết kiệm, hiệu quả đất đai. Tuy nhiên, Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp chưa có quy định về mức thuế suất đối với đất bỏ hoang, đất không đưa vào sử dụng, đất chậm đưa vào sử dụng.
Để tiếp tục thể chế hóa Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28-7-2026 của Trung ương về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan, Chính phủ đề xuất bổ sung trong Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp quy định về nội dung này.

Bộ trưởng Tài chính Ngô Văn Tuấn đọc tờ trình về Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp. Ảnh: QUANG PHÚC
Phương án cụ thể là đất bỏ hoang, không đưa vào sử dụng, chậm đưa vào sử dụng áp dụng mức thuế suất 0,2% và không áp dụng hạn mức.
Dự kiến luật có hiệu lực từ ngày 1-1-2027, nếu được Quốc hội thông qua.
Báo cáo thẩm tra dự án luật này do Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính Phan Văn Mãi trình bày, sau đó tán thành đề xuất này. Song lưu ý, khi đối chiếu với Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp hiện hành và dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), quy định tại dự thảo luật này chưa thống nhất và chưa rõ căn cứ để thực hiện.

Quang cảnh hội trường Diên Hồng sáng 23-10. Ảnh: QUANG PHÚC
Chủ nhiệm Phan Văn Mãi phân tích, luật hiện hành đã quy định áp dụng thuế suất 0,15% đối với “đất chưa sử dụng theo đúng quy định”. Về bản chất, điều đó chính là “đất không đưa vào sử dụng, chậm đưa vào sử dụng”. Nếu đề xuất trên của Chính phủ được thông qua, có thể dẫn đến cách hiểu cùng một diện tích đất có thể thuộc đối tượng áp dụng với hai mức thuế suất khác nhau.
Bên cạnh đó, dự thảo luật này dẫn chiếu pháp luật về đất đai đối với 3 trường hợp “đất bỏ hoang”, “không đưa vào sử dụng”, “chậm đưa vào sử dụng”. Trong khi dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) chỉ quy định khái niệm đất bỏ hoang và các trường hợp thu hồi đất bỏ hoang do vi phạm pháp luật về đất đai đối với đất bỏ hoang. Vì thế, quy định dẫn chiếu chưa có căn cứ để áp dụng.
Trong khi đó, đối với đất thực hiện dự án đầu tư không sử dụng hoặc chậm sử dụng, dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) quy định: ngoài tiền sử dụng đất, tiền thuê đất phải nộp, Nhà nước thu tiền sử dụng đất tăng thêm, tiền thuê đất tăng thêm được tính lũy tiến hàng năm. Trường hợp quá 60 tháng mà chủ đầu tư vẫn không đưa đất vào sử dụng thì Nhà nước thu hồi đất.
Như vậy, cùng một diện tích đất dự án không sử dụng, chậm sử dụng, người sử dụng đất vừa phải nộp tiền sử dụng đất, tiền thuê đất tăng thêm theo dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), vừa phải nộp thuế sử dụng đất phi nông nghiệp với thuế suất 0,2% theo dự thảo luật này. Điều đó dẫn đến “thuế trùng thuế” đối với cùng một hành vi.
“Hồ sơ dự án luật chưa đánh giá được tác động thu ngân sách Nhà nước do dữ liệu về các loại đất này chưa được thống kê trên hệ thống quản lý của cơ quan thuế. Dự thảo luật chưa loại trừ thời gian bất khả kháng và đất của dự án đầu tư phân kỳ được phê duyệt, có thể dẫn đến thu thuế trường hợp chậm sử dụng đất do nguyên nhân khách quan”, đồng chí Phan Văn Mãi nêu rõ.
Ủy ban Kinh tế và Tài chính đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo làm rõ mối quan hệ giữa thuế suất 0,2% với khoản tiền phải nộp theo pháp luật về đất đai. Không trùng lặp nghĩa vụ tài chính nhưng không làm giảm nghĩa vụ của các trường hợp đang áp dụng thuế suất 0,15%. Đồng thời, bổ sung đánh giá tác động đối với ngân sách nhà nước, người nộp thuế và khả năng tổ chức thực hiện.
