Đền Đức Thánh Nguyễn Minh Không
Đền thờ Đức Thánh Nguyễn là một ngôi đền cổ thuộc địa phận xã Gia Thắng và xã Gia Tiến, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình (nay thuộc xã Đại Hoàng, tỉnh Ninh Bình)

Đền Đức Thánh Nguyễn Minh Không.
Nguyễn Minh Không sinh ngày 15/10 (âm lịch) năm 1066, đời vua Lý Thánh Tông (1054-1072) tại xã Đàm Xá, phủ Trường Yên (nay là xã Đại Hoàng, tỉnh Ninh Bình).
Nguyễn Minh Không, tên tự là Chí Thành, năm 11 tuổi xuất gia, thụ giáo đạo Phật với Từ Đạo Hạnh, người làng Yên Lãng (nay thuộc huyện Từ Liêm, Hà Nội) là bậc cao tăng nổi tiếng thời bấy giờ. Trở thành nhà tu hành, với pháp danh Minh Không, nên gọi là Nguyễn Minh Không.
Thiền sư Nguyễn Minh Không đã lập ra nhiều chùa và trụ trì ở nhiều chùa như chùa Quỳnh Lâm (xã Tràng An, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh), ở trong chùa Nguyễn Minh Không có đúc một pho tượng Di Lặc bằng đồng cao 6 trượng, được coi là một trong “An Nam tứ đại khí” (bốn báu vật lớn của Việt Nam). Ông là một nhà tu hành có tên tuổi, uy tín lớn thời bấy giờ với đạo học uyên bác. Sách “Đại Việt sử ký toàn thư” có ghi: “Quốc sư Minh Không... rất linh ứng, phàm khi có thuỷ hạn tai hoạ gì cầu đảo đều linh nghiệm cả”.
Nguyễn Minh Không rất thông hiểu đạo Phật và đồng thời còn là một danh y nổi tiếng thời bấy giờ, người đời còn cho rằng ông được trời ban cho “Thiên y thư” (sách thuốc của trời). Chính vì vậy khi vua Lý Thần Tông (1128 - 1138) mắc trọng bệnh, các danh y nổi tiếng khắp nơi đều được triệu về kinh để chữa bệnh cho vua, nhưng bệnh tình vẫn không giảm. Ông được mời về triều để chữa bệnh cho vua. Sách “Đại Việt sử ký toàn thư” cũng ghi: Sư Minh Không đã chữa cho vua Lý Thần Tông khỏi bệnh, được ban hiệu Quốc Sư. Từ đó Ngài được gọi là Lý Quốc Sư. Nguyễn Minh Không còn đựơc suy tôn là ông tổ của nghề đúc đồng Việt Nam.
Nguyễn Minh Không mất vào mùa thu (tháng 8) năm Tân Dậu, niên hiệu Đại Định thứ hai (1141), thọ 76 tuổi.
Sau khi Ngài mất, vua Lý Anh Tông (1138 - 1175) cho lập đền thờ Ngài ở Kinh đô, ngày nay là đền Lý Quốc Sư, Hà Nội. Ngài còn được thờ ở chùa Keo (chùa Hành Thiện) ở xã Xuân Hồng, huyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định (nay là xã Xuân Hồng, tỉnh Ninh Bình); chùa Địch Lộng ở xã Gia Thanh, huyện Gia Viễn (nay là xã Gia Trấn, tỉnh Ninh Bình), cùng rất nhiều chùa ở nơi khác. Ngài được tôn là bậc Thánh. Tục ngữ có câu:
Đại Hữu sinh Vương
Điềm Dương sinh Thánh
(Làng Đại Hữu sinh vua,
Làng Điềm Dương (Điềm Xá) sinh Thánh).
Khoảng năm 1121, Nguyễn Minh Không đã về quê Đàm Xá xây dựng một ngôi chùa nhỏ thờ Phật, tên là Viên Quang (Viên Quang tự). Chùa nằm trên khu đất ngày nay là nhà Vọng Lâu ở trước cửa đền Nguyễn Minh Không. Tương truyền, Nguyễn Minh Không đã đúc quả chuông nặng trên một tấn treo ở Viên Quang tự.
Khi Nguyễn Minh Không mất, nhân dân Đàm Xá đã chuyển ngôi chùa đó (Viên Quang tự) thành đền thờ Ngài. Khoảng cuối thế kỷ XVI, ngôi đền bị hư hỏng nặng, Mỹ Quận công Bùi Văn Khuê là tướng của nhà Mạc, sau quay về đầu hàng nhà Lê (là chồng bà Nguyễn Thị Niên gọi là bà Chúa Quận Mỹ, đền thờ bà là đền Vực Vông ở xã Trường Yên (nay là phường Tây Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình) đã đứng ra xây dựng lại đền.
Trải qua một số lần trùng tu, ngôi đền vẫn còn dáng vẻ như ngày nay được gọi là “Đền đức Thánh Nguyễn”. Đền được xây dựng theo kiểu “nội công ngoại quốc” trên một khu đất rộng khoảng gần 2 mẫu, là một địa bàn:
Tượng sơn chung dục
Ngưng thuỷ trường thành
Nơi đây là một miền đất tận cùng của núi Voi. Đền quay hướng Nam. Trước đền có con ngòi hình rồng chín khúc (giang hồ cửu khúc) là một nhánh của sông Hoàng Long. Xa nữa là sông Hoàng Long uốn lượn. Rồi đến các dãy núi phía Tây Nam nhấp nhô, hiên ngang, cao vút, có núi Rồng, núi Rắn, núi Phượng, núi Voi, núi Đính.
Vào đền đi theo hai lối Đông Tây có hai cột cờ ở hai bên cao vời vợi. Đầu tiên là Vọng Lâu, gọi là Vong Lâu vì xây dựng trên “nền nhà cũ” nơi Nguyễn Minh Không ra đời, “Vọng” có nghĩa là vọng nhớ, cũng gọi là Nghi môn của đền.
Vọng Lâu kiến trúc theo kiểu 2 mái 3 gian, tường hồi bít đốc, mái lợp ngói mũi, chiều dài 7,6 m, chiều rộng 4 m, dựng ba hàng cột gỗ lim, cột cái cao 3,5 m, cột quân cao 2,48 m, vì kiểu chồng rường gánh. Mặt trước Vọng Lâu đắp “Lưỡng long chầu nhật” dài 7,6m, mặt sau đắp “Phượng hàm thư” là hai chim phượng ngậm cuốn thư.
Vọng lâu kiến trúc mở nên không có các cánh cửa. Mặt trước và mặt sau của Vọng Lâu đều có những bức Hoành phi và câu đối.
Bên hồi của Vọng Lâu có cây đèn đá hình lục giác, cao hơn một mét, là biểu tượng cái đèn của Nguyễn Minh Không ngày xưa dùng thắp sáng để ngồi thiền định. Huyền thoại kể rằng, cây đèn tự nhiên mọc lên. Nguyễn Minh Không thường đêm đêm ngồi bên cây đèn. Các loài chim, loài thú về chầu xung quanh, ánh sáng cây đèn chiếu bao la trên không trung, chiếu sáng đến tầng mây trên không. Chính vì thế, nhân dân tôn hiệu ông là Minh Không và từ đó trở đi, gọi thiền sư là Minh Không. Tiếp đến là sân gạch (sân chầu) chạy dài 24 mét, có hai lối vào đền qua hai cổng Đông Tây. Phía Đông và phía Tây sân gạch là hai dãy nhà Giải Vũ, mỗi dãy trước đây đều có 9 gian đăng đối.
Ngày nay, Tả vu có 7 gian, dài 19,3 m, rộng 5,2m; Hữu vu dài 22,10 m, rộng 5,2 m, cao 3,9 m.
Đền có 4 toà làm theo kiểu “tiền nhất, hậu công”, nghĩa là phía trước theo kiểu chữ “nhất” (一), tiếp sau là chữ “công” (工).
Tiền Bái 5 gian, dài 14,2 m, rộng 7,5 m, cao 4,59 m, có bốn hàng cột, vì kèo theo kiểu “Thượng rường hạ kẻ”. Mái lợp bằng ngói ta không có mấu, mũi lượn tròn, phía dưới là ngói chiếu. Trong Tiền Bái có 5 bức cửa võng ở cả 5 gian đều được sơn son thếp vàng, chạm lưỡng long chầu nguyệt và tứ linh rất sinh động. Ở hai bức rèm bưng hai gian giữa và hai gian phía Đông chạm rồng và ổ rồng. Hai vì chồng rường ở hai hồi Đông Tây trên các trụ đấu, con rường, các tấm ván bưng cũng được chạm rồng, chạm nghê.
Gian giữa trên cao ở phía ngoài có cuốn thư chạm khắc bốn chữ Hán “Thiên Khải Thánh Sinh” (Trời sinh ra Thánh), phía trong treo bức đại tự “Tối Linh Từ” (Đền tối linh thiêng). Các gian hai bên để đồ tế khí, long đình và hai cái trống đại, mặt trống đường kính 1,4 mét. Đây là hai cái trống rất quý hiếm đã có từ lâu, vì người thợ phải tìm những con trâu to lớn mới đủ da để bịt mặt trống. Các cột trong Tiền Bái đều được treo nhiều câu đối ca ngợi công đức của Nguyễn Minh Không.
Tiếp theo là toà đệ nhị, gọi là tòa Đại bái, dài 14,2 m, rộng 4,3 m, vì kèo cũng theo kiểu chồng rường, có đôi xà cổ ngỗng giống với xà cổ ngỗng ở đền Đinh (Trường Yên), dựng 18 cột, có 6 cột cái đường kính 31cm. Các cột đều được đặt trên chân tảng. Trên vì kèo cũng được chạm đàn rồng, đao mác tua tủa. Đến đây chúng ta thấy lối kiến trúc dân gian độc đáo, hai mái giao nhau rất khớp về độ cao, ăn ý, hài hoà với nhau. Hai toà đệ nhất và đệ nhị liền nhau tạo cho Tiền Bái có một không gian rộng và sâu.
Sau đó đến Thiêu Hương có 3 bộ vì tạo thành 2 gian, dọc theo kiểu nhà ống muống, có bốn hàng chân cột. Trong Thiêu Hương để các long đình thờ. Đây cũng là nơi bày cỗ cúng của hai làng Điềm Giang và Điềm Xá khi tế lễ ở đền.
Trong cùng là Chính Tẩm, năm gian, cũng gọi là Hậu cung, làm theo kiểu chồng rường, chiều ngang 14,8 m, chiều rộng 5,2 m, có 4 hàng chân cột, gồm 24 cột, trong đó có 4 cột cái đường kính 32 cm. Hồi có mái giả (mái dại), trụ non, xà đuôi chuột. Riêng bộ hoành tròn chạm khắc công phu, có lá chắn đường hoành xung quanh. Hồi phía Đông, trên ván bưng chạm khắc: đoàn người cưỡi voi, nam nữ tình tự, bốn cô gái tắm trong hồ sen, cảnh người lễ có người hầu đứng bên,… Hồi phía Tây chủ yếu chạm khắc tứ linh: long, ly, quy, phượng, long chầu,… Những mảng chạm khắc này mang phong cách nghệ thuật điêu khắc thế kỷ XVII.
Gian giữa của Chính Tẩm có bài vị thờ Nguyễn Minh Không. Sau bài vị là bát hương bằng đồng, rồi đến tượng Nguyễn Minh Không bằng đồng thếp vàng ngồi trong lầu, xếp bằng tròn như thế thiền định của nhà Phật. Gian phía Đông của Chính Tẩm có hai lầu thờ bài vị Khải Thánh (Khải Thánh nhị cung, tức là thờ cha mẹ Nguyễn Minh Không). Gian phía Tây của Chính Tẩm có lầu thờ bài vị Tô Hiến Thành.
Tô Hiến Thành là người đất Ô Diên (nay là xã Hạ Mỗ, huyện Đan Phượng, tỉnh Hà Tây). Từ nhỏ, Tô Hiến Thành đã có tiếng là người thông minh, cương trực, văn võ đều giỏi. Ông làm quan trong triều vua Lý Anh Tông (1138 - 1175), được phong đến chức Thái phó và Thái uý (Tể tướng) là chức quan rất to trong triều. Sang đời vua Lý Cao Tông (1176 - 1210), ông làm Thái sư phụ chính. Ông hết sức giúp đỡ nhà vua mới còn nhỏ tuổi. Hoàng Thái hậu muốn lập Thái tử Long Xưởng (là người vì hư đốn, đã bị truất quyền nối ngôi) lên làm vua, ông kiên quyết không nghe. Suốt thời kỳ làm quan trong triều, ông luôn giữ tính cương trực, trọng nghĩa, khinh tài, một lòng trung thành vì dân, vì nước.
Vì vậy, sau khi Tô Hiến Thành mất, vua Lý Cao Tông đã quyết định cho phối thờ Tô Hiến Thành ở đền thờ Nguyễn Minh Không.
Điều đặc biệt trong Chính Tẩm là hai vì kèo ở đầu hồi Đông Tây, trên các xà ngang, xà dọc, trụ đấu, ván bưng cũng đều được chạm long, ly vui đùa cùng nhau trông rất đẹp. Đó là những tác phẩm nghệ thuật điêu khắc gỗ rất độc đáo.
Hai bên Đông Tây đền là hai dãy nhà trù, phía Đông còn có ba gian nhà thờ quan giám sát, cao 4,84 m, mái làm 2 tầng chồng diêm, nền nhà cao hơn mặt sân 19 cm.
Phía sau Chính Tẩm của đền là gác chuông hai tầng, tám mái, theo kiểu chồng diêm, được xây dựng cũng toàn bằng gỗ lim, gồm 16 cột, trong đó có 4 cái của gác chuông cao 5,5 mét, có đường kính 0,6 mét và 12 cột quân, cao 4 mét, đường kính 0,4 mét đã làm cho gác chuông vững chắc. Các mái của gác chuông đều có các đầu đao cong vút lên. Trong gác chuông, có các con song tiện, chạm lá ngạch soi chạy diễu xung quanh ở cả hai tầng. Các mảng đề tài chạm khắc ở đây là: long, ly vui đùa, lưỡng long chầu nguyệt, vân bay, rồng phượng, nghê chầu, rồng ấp…
Gác chuông treo một quả chuông nặng hơn một tấn, cao 1,6 mét, đường kính miệng 0,8 mét do hai ông Nguyễn Duy Thế và Trần Trọng Ngân ở Điềm Giang, Điềm Xá hưng công đức năm Minh Mạng thứ sáu (1825). Gác chuông được xây dựng sau cùng. Tương truyền, Mỹ Quận công Bùi Văn Khuê đã cho người lên tận Cao Bằng dỡ lầu của Công chúa nhà Mạc về làm gác chuông.
Đền còn có hệ thống tường bao quanh, xây dựng rất công phu. Trong khu đền còn có nhiều cây cổ thụ tán lá xanh tươi và những cây cảnh, cây hoa đủ màu sắc trang điểm cho đền thêm kỳ ảo. Tất cả đã tạo thành một bức tranh phong cảnh làng quê thâm nghiêm, tĩnh mịch.
Toàn cảnh khu đền là một công trình kiến trúc, điêu khắc đăng đối, hoành tráng theo lối kiến trúc chủ yếu ở thế kỷ thứ XVII do bàn tay khéo léo của con người tạo nên, hoà nhập với núi sông, mây trời ở vùng đất Cố đô Hoa Lư tạo thành một tác phẩm nghệ thuật độc đáo.
Đền Thánh Nguyễn đã được Nhà nước công nhận là “Kiến trúc nghệ thuật” cấp Quốc gia ngày 02/3/1990.

