Đi chợ
Cuối cùng thì tôi cũng được theo má đi chợ! Còn trước đó chỉ biết qua lời kể của mấy đứa trong xóm. Có đứa nói chợ đông người ta kinh khủng, đi phải nhích nhích, chen không lọt. Đứa khác nói chợ có hủ tiếu ngon nhứt trên đời, càng húp thì nước súp càng ngọt!
Tụi nó còn nói là ở chợ mấy con “bù nhìn” (ma nơ canh) được đánh son phấn, cho bận đồ đẹp, đội nón nỉ và đứng trong tủ kiếng. Khác với ở quê là con bù nhìn toàn bận đồ rách, đội nón rách và đứng phơi sương phơi nắng ở ngoài ruộng để đuổi chim, chuột.
Những đêm trời trong vào mùa đạp lúa, rơm rạ được chất thành đống cao, tụi nhỏ thường leo lên đọt “cây rơm” để nhìn ra chợ, thì nơi đó là một vùng sáng có chi chít ánh đèn.

Mặc dù từ nhà ra chợ cũng không quá xa. Ba nói khoảng năm cây số đường chim bay. Nhưng đi ghe thì phải qua ba khúc sông: Từ nhà ra đến vàm là con rạch nhỏ, hai bên dừa nước mọc dày đặc; từ vàm đến ngã ba sông cái là sông nhánh, dọc bờ sông có mấy căn nhà kê và có ghe bầu đậu dưới bến, ban đêm có đèn măng xông sáng trưng; ra đến sông cái thì có rất nhiều ghe chài chở hàng khẳm mèm với hai con mắt phía trước mũi, rồi phải đi một đoạn nữa thì mới đến chợ.
Dù chỉ có ba khúc sông thôi, nhưng việc canh con nước để đi chợ là cả một vấn đề khó nhớ. Vì đồng bằng sông Cửu Long có tới hai chế độ thủy triều khác nhau. Phía biển Đông là bán nhật triều, tức là trong một ngày một đêm (24 giờ) có hai lần nước lớn và hai lần nước ròng. Còn phía biển Tây là nhật triều, nên trong một ngày đêm chỉ có một lần nước lớn và một lần nước ròng.
Trong một tháng lại có hai con nước rong và hai con nước kém. Mỗi con nước kéo dài khoảng bảy ngày, nước rong là lúc nước dâng lên, nước kém là lúc nước rút xuống. Hai con nước rong đạt đỉnh cao nhất là vào khoảng giữa và cuối tháng âm lịch, còn hai con nước kém tiếp theo sau là giai đoạn nước rút.
Nói vòng vo như vậy để thấy chuyện canh nước đi chợ rối rắm đến mức nào! Bởi vì nếu đi chợ bán gà thì phải đến chợ trước bốn giờ sáng, để bạn hàng còn kịp chuyển gà về Sài Gòn. Còn nếu bán cá tôm, rau cải thì cần đến chợ trước năm giờ sáng để nhà vựa còn kịp đếm lại cho tiểu thương mang về các chợ nhỏ hơn.
Rồi trong một năm còn có thêm mùa nước nổi và mùa nước cạn. Mùa nước nổi bắt đầu và chấm dứt tùy theo vùng. Ở vùng thượng nguồn thì nước về sớm và rút đi sớm hơn phía hạ nguồn. Thường thì bắt đầu vào khoảng giữa tháng Bảy Âm lịch, là lúc nước dâng cao tràn đồng tràn bờ, nên người dân nhắc nhở nhau là “rằm tháng Bảy nước nhảy khỏi bờ” và kéo dài đến cuối tháng Mười. Còn các tháng còn lại trong năm là mùa nước cạn.
Vì vậy, lúc nước ròng trong con nước kém của mùa nước cạn là lúc sông rạch có mực nước thấp nhất. Đây là mùa xuống bãi bùn thụt lịch hay đãi cá chạch. Ngược lại là lúc nước lớn trong con nước rong của mùa nước nổi là lúc có mực nước cao nhất. Lúc này, người dân miệt bưng tranh thủ đem ghe xuồng ra vàm lặn đất về bồi nền nhà hay sân phơi lúa.
Chế độ bán nhật triều có chênh lệch giữa lúc nước lớn và nước ròng lớn gấp hai ba lần chế độ nhật triều. Đặc biệt là có những vùng bị ảnh hưởng cùng lúc của hai chế độ triều, gọi là vùng “giáp nước”, nơi mà nước sông gần như không chảy và mực nước trong ngày không thay đổi nhiều giữa lúc nước lớn hay nước ròng. Những vùng giáp nước như vậy chỉ chờ con nước rong trong mùa nước nổi thì dòng sông ở đây nước mới chảy được.
Nói vòng vo như vậy để thấy chuyện canh nước đi chợ rối rắm đến mức nào! Bởi vì nếu đi chợ bán gà thì phải đến chợ trước bốn giờ sáng, để bạn hàng còn kịp chuyển gà về Sài Gòn. Còn nếu bán cá tôm, rau cải thì cần đến chợ trước năm giờ sáng để nhà vựa còn kịp đếm lại cho tiểu thương mang về các chợ nhỏ hơn. Nếu canh trật thời gian thì phải “ôm hàng” ngồi bán suốt buổi chợ, hoặc phải bán đổ bán tháo cho xong để còn kịp con nước lúc quay về.
Gà vịt thì còn có thể bắt nhốt vào chiều hôm trước rồi để khuya đem đi chợ, chứ cá tôm thì phải canh con nước để cất vó, dở lọp hay cuốn đăng và phải tính đúng thời gian đến chợ cho chúng còn “nhảy soi sói” thì mới mong bán được giá cao.
Vì vậy mà lần đầu tiên được đi chợ với má là vào lúc mười hai giờ đêm. Má nói đi như vậy cho “xuôi con nước”. Tức là má canh lúc nước đứng lớn, thì đoạn từ nhà ra vàm nước không còn chảy, ra đến vàm thì nước bắt đầu ròng và đến được sông cái thì nước bắt đầu lớn. Đi như vậy toàn là xuôi dòng nước nên rất nhanh và nhẹ sức chèo mà vẫn kịp buổi chợ.
Ra đến chợ lúc trời còn tối om, má biểu ở lại giữ ghe. Má ghé bán mấy con gà giò, xong rề qua vựa bán mớ cá tôm, rồi lên tiệm đếm (bán) hai cần xé hột vịt. Má cho đồng tiền năm cắc, biểu giữ cẩn thận đừng để rớt xuống sông, khi nào trời sáng có ông bán cà rem “leng keng” đi ngang thì mua.
Tôi rất hồi hộp ngồi chờ trời sáng, lúc này nước lớn đầy sông, ghe xuồng tấp nập, người đi lên đi xuống, đúng là ồn ào như cái chợ! Trong sự ồn ào đó, tôi nghe tiếng “leng keng” của ông bán cà rem, tim đập thình thịch, mắt nhìn chăm chăm vào chiếc xe đạp có cái thùng nhôm phía sau và cái chuông kêu leng keng. Tôi cứ ngó theo và rất mong ông bán cà rem nhìn thấy mình. Nhưng ông bán cà rem không để ý, đi ngang qua, lòng tràn đầy tiếc nuối, đồng năm cắc in hình trong lòng bàn tay vì bóp nó quá chặt.
Rồi má quay lại, má mua cho ổ bánh mì, hỏi ăn cà rem chưa, má biểu lên bờ đến bên chiếc xe đạp đó mua cà rem, nhớ trả tiền. Theo lời má, tôi đến bên ông bán cà rem rụt rè nói “bán cho cà rem”. Tôi quan sát ông mở nắp thùng, lấy ra một cây dài quấn giấy, lấy dao cắt một khúc, rồi lấy một que tre đóng vào và đưa cho tôi. Tôi lắc đầu nói không phải thứ nầy, mà bán cho tôi “cà rem” kìa. Bởi vì lần trước chị tôi đi chợ về đã có mua cho rồi.
Tôi còn nhớ như in cà rem là “nước ngọt ngây, có màu vàng, có mùi sầu riêng, đựng trong cái chén, bên trong có cái que tre và một khoanh giấy”, những thứ mà lúc đó tôi không biết người ta để vào làm gì? Chớ đâu phải là một cây cứng như thế này! Ông bán cà rem sững người nhìn tôi rất lâu, rồi nói như nạt “thì đây là cà rem nè!”. Sợ quá, tôi phải cầm lấy và trả đồng năm cắc cho ông rồi trở lại ghe với má.
Trời ạ, lần đầu tiên trong đời tôi thấy một thứ gì vừa “lên khói” lại vừa lạnh, liếm vào thì sợ phỏng lưỡi, còn cầm nó thì lạnh tê tay. Tôi cứ nhìn trân trân cây cà rem và thấy nó chảy ra từng giọt. Vậy là một tay cầm cây cà rem, tay kia hứng từng giọt nó chảy ra rồi… liếm. Ồ! đúng là thứ “cà rem” mà chị tôi mua đây mà. Chỉ có khác là nó lạnh quá!
Tôi đã “ăn” hết cây cà rem như vậy thì cũng là lúc nước bắt đầu ròng. Thứ mà tôi còn lại trên tay là một khoanh giấy và cái que tre. Tôi bắt đầu hiểu cái que tre là để người ta cầm cho khỏi tê tay, còn khoanh giấy thì vẫn không biết để làm gì?
Về đến nhà là tụi nhỏ trong xóm bu quanh để nghe tôi kể chuyện đi chợ. Khi tôi nói cà rem là thứ “nóng lên khói” mà cầm vào “lạnh tê cứng tay”, thì tụi nó cười sằng sặc, không đứa nào tưởng tượng ra đó là thứ gì? Bởi vì chúng cũng như tôi trước đây, chỉ biết “cà rem là nước ngọt ngây, có màu vàng, có mùi sầu riêng, đựng trong cái chén, bên trong có cái que tre và một khoanh giấy”. Tôi lên giọng “tụi mầy đúng là đồ nhà quê, khi nào được đi chợ như tao thì sẽ biết”!
Nguồn Saigon Times: https://thesaigontimes.vn/di-cho/











