Đi nhanh trong năm 2025 và đi bền cho những năm tới
Việt Nam đã có nhiều thành quả trong năm 2025 khi nền kinh tế vẫn giữ được nhịp tăng trưởng cao trong bối cảnh thế giới nhiều biến động nhưng đi kèm là sự dè dặt khi nhìn sâu hơn vào những gì đang nâng đỡ tăng trưởng, và những sức ép cho năm tới.
Tăng trưởng cao nhất thế giới
Tốc độ tăng trưởng GDP đạt 8,02% – thuộc nhóm cao nhất thế giới – là một con số không thể xem nhẹ. Trong hơn một thập niên qua, chỉ có năm 2022, thời điểm phục hồi mạnh sau đại dịch, đạt mức cao hơn.
Kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định; lạm phát bình quân được kiểm soát ở mức 3,31%; tỷ giá và lãi suất nhìn chung không biến động lớn trong phần lớn thời gian của năm. Khu vực dịch vụ phục hồi rõ nét, đặc biệt là du lịch, với gần 21,2 triệu lượt khách quốc tế – mức cao chưa từng có. Công nghiệp tăng tốc, chỉ số sản xuất toàn ngành tăng 9,2%, cao nhất kể từ năm 2019.
Những con số ấy cho thấy sức chống chịu của nền kinh tế đã tốt hơn trước. Nhưng năm 2025 không phải là một năm bình thường và ngay từ đầu năm, Đảng và Nhà nước đã dự liệu đây sẽ là một năm nhiều khó khăn.
Thực tế diễn ra còn khắc nghiệt hơn. Kinh tế thế giới liên tục biến động; xung đột địa chính trị kéo dài; chuỗi cung ứng toàn cầu chưa thật sự ổn định. Trong nước, thiên tai xảy ra dồn dập, với những đợt bão lũ vượt mức lịch sử ở nhiều địa phương miền Trung và Tây Nguyên, gây tổn thất lớn về sinh kế, hạ tầng và đời sống người dân.
Trong bối cảnh ấy, việc giữ được ổn định vĩ mô và tăng trưởng cao là một nỗ lực đáng ghi nhận. Nhưng nếu chỉ dừng lại ở các chỉ tiêu tổng hợp, bức tranh sẽ trở nên thiếu chiều sâu.
Tiêu dùng của dân suy giảm
Câu hỏi quan trọng hơn là: tăng trưởng ấy dựa trên những động lực nào, và các động lực đó có đủ bền để đi tiếp trong năm 2026 với mục tiêu tăng trưởng 10%, cao hơn của năm 2025, hay không?

Kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, lạm phát bình quân được kiểm soát ở mức 3,31% trong năm 2025. Ảnh: Nam Khánh
Điểm đầu tiên cần nhìn thẳng là tiêu dùng nội địa. Với một nền kinh tế hơn 102 triệu dân, tiêu dùng lẽ ra phải là trụ cột vững chắc. Nhưng thực tế năm 2025 lại cho thấy một nghịch lý: GDP tăng mạnh, trong khi sức mua của hộ gia đình phục hồi rất chậm. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng có tăng về danh nghĩa, nhưng nếu loại trừ yếu tố giá và các khoản mang tính hành chính, mức tăng thực chỉ quanh 6,7% – gần như không khác năm 2024.
Đằng sau con số ấy là nhiều nguyên nhân chồng lên nhau. Thu nhập và việc làm của một bộ phận lớn người lao động phục hồi chậm hơn kỳ vọng. Thiên tai lịch sử trong năm đã trực tiếp làm gián đoạn sinh kế, buộc nhiều hộ gia đình phải thắt chặt chi tiêu để phòng ngừa rủi ro. Trong bối cảnh đó, tiêu dùng cho đời sống dân cư gần như đi ngang, dù nền kinh tế vẫn tăng trưởng cao.
Tăng trưởng năm 2025 vì thế mang dấu ấn rõ nét của chi tiêu công. Đây là lực đỡ cần thiết trong ngắn hạn, nhưng khó có thể trở thành nền tảng bền vững. Khi niềm tin tiêu dùng chưa được khôi phục chắc chắn, sức mua yếu sẽ tiếp tục là điểm nghẽn lớn cần đột phá khi bước sang năm 2026.
Đầu tư công vượt trội
Động lực thứ hai là đầu tư. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội năm 2025 đạt hơn 4,15 triệu tỷ đồng, tăng khá so với năm trước. Đầu tư công bứt phá mạnh, vốn thực hiện tăng hơn 26%, nhiều dự án hạ tầng lớn được đẩy nhanh tiến độ, tạo hiệu ứng lan tỏa nhất định tới các ngành vật liệu xây dựng, logistics và dịch vụ liên quan. Dòng vốn FDI giải ngân đạt 27,62 tỷ USD, mức cao nhất trong 5 năm.
Tuy nhiên, nhìn vào cơ cấu đầu tư, bức tranh lại kém lạc quan hơn. Khu vực Nhà nước chiếm gần 30% tổng vốn và tăng gần 20%. Khu vực FDI tăng hơn 11%. Trong khi đó, khu vực ngoài Nhà nước – tức khu vực tư nhân trong nước – chỉ tăng 8,4%. Điều này cho thấy động lực đầu tư nội sinh vẫn phục hồi chậm, chưa tương xứng với vai trò được kỳ vọng là trụ cột dài hạn của nền kinh tế.
Không thể phủ nhận quyết tâm bứt tốc của đầu tư công trong năm qua. Nhưng tốc độ giải ngân nhanh không đồng nghĩa với hiệu quả cao. Nhiều dự án vẫn còn dàn trải, thiếu trọng tâm chiến lược; cơ chế phối hợp với khu vực tư nhân chưa đủ hấp dẫn để tạo ra những cú huých về năng suất và đổi mới sáng tạo. Trong khi đó, đầu tư tư nhân vẫn khá dè dặt, phản ánh tâm lý phòng thủ trước những bất định về thị trường và chi phí vốn.
Doanh nghiệp FDI chiếm tới 76% kim ngạch xuất khẩu
Động lực thứ ba là ngoại thương, vốn lâu nay được coi là đầu tàu tăng trưởng. Năm 2025, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt hơn 930 tỷ USD – một kỷ lục mới. Nhưng quy mô lớn hơn không đồng nghĩa với hiệu quả cao hơn. Xuất siêu có xu hướng thu hẹp dần trong những năm gần đây, dù tổng kim ngạch tiếp tục tăng. Tỷ lệ xuất siêu trên tổng kim ngạch giảm liên tục, phản ánh đóng góp ròng của ngoại thương cho tăng trưởng không còn mạnh như trước.
Đáng lo hơn là mức độ lệ thuộc ngày càng lớn vào khu vực FDI và một số ít thị trường. Doanh nghiệp FDI chiếm tới 76% kim ngạch xuất khẩu năm 2025, cao hơn rất nhiều so với hơn một thập niên trước.
Ngoại thương Việt Nam cũng phụ thuộc sâu vào hai thị trường lớn: Mỹ chiếm hơn 32% xuất khẩu, Trung Quốc chiếm hơn 40% nhập khẩu. Chỉ một thay đổi chính sách từ các thị trường này cũng có thể tạo ra tác động lan tỏa mạnh lên toàn bộ nền kinh tế.
Tiền tệ mở rộng hỗ trợ tăng trưởng
Những rủi ro ấy trở nên rõ nét hơn khi bước sang cuối năm 2025. Lãi suất liên ngân hàng duy trì ở mức cao; huy động vốn khó khăn; mặt bằng lãi suất huy động của các ngân hàng thương mại tăng lên 7–8%/năm. Việc phát hành trái phiếu Chính phủ không còn thuận lợi như giai đoạn trước, cho thấy áp lực huy động vốn cho đầu tư phát triển và cân đối ngân sách ngày càng lớn.
Một lát cắt khác giúp nhìn rõ hơn các sức ép đang tích tụ nằm ở lĩnh vực tiền tệ. Tính đến ngày 22/12/2025, tổng phương tiện thanh toán tăng gần 15% so với cuối năm 2024, cao hơn đáng kể mức tăng của cùng kỳ năm trước. Huy động vốn của các tổ chức tín dụng tăng 13,68%, trong khi tăng trưởng tín dụng đạt tới 17,65% – cao hơn nhiều so với mức 13,4% của cùng thời điểm năm 2024.
Những con số này cho thấy dòng tiền đã được bơm ra mạnh hơn để hỗ trợ tăng trưởng, nhưng đồng thời cũng làm gia tăng áp lực lên mặt bằng lãi suất, tỷ giá và ổn định vĩ mô trong giai đoạn tiếp theo. Khi tín dụng tăng nhanh hơn huy động, dư địa điều hành chính sách tiền tệ vì thế trở nên hẹp hơn, nhất là khi bước sang năm 2026.
Nhìn tổng thể, tăng trưởng 8,02% của năm 2025 là một kết quả đáng ghi nhận. Nó giống như một bài kiểm tra sớm về sức bền của nền kinh tế trong giai đoạn mới với mục tiêu tăng trưởng 10% mỗi năm, cao chưa từng có trong lịch sử kinh tế của đất nước.
Nếu tiếp tục dựa nhiều vào đầu tư công, FDI và xuất khẩu, trong khi tiêu dùng nội địa yếu và khu vực tư nhân trong nước chưa thực sự hồi phục, thì quán tính tăng trưởng sẽ sớm chạm trần.
Thách thức đặt ra không chỉ là duy trì tốc độ tăng trưởng cao, mà là tái cấu trúc các động lực tăng trưởng theo hướng bền vững hơn: phục hồi niềm tin và sức mua của người dân; nâng chất lượng đầu tư; giảm lệ thuộc vào FDI và thị trường bên ngoài; và quan trọng nhất, tăng cường sức chống chịu nội sinh của nền kinh tế.
Năm 2025 cho thấy Việt Nam có thể đi nhanh khi cần. Câu hỏi còn lại là liệu chúng ta có đủ tỉnh táo và kiên trì để chạy nhanh và chạy bền trong những năm tới với mục tiêu 10% hay không.











