Đi qua chiến tranh bằng tình yêu - Bài 3: Chuyện về cuốn nhật ký viết cho con
Từ ngày gửi con thơ để ra tiền tuyến đến khi trao những kỷ vật năm xưa cho Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam - trong đó có cuốn nhật ký viết cho con, cuộc đời bà Hoàng Thị Kim Vinh là một minh chứng cho sức mạnh của niềm tin, lòng kiên cường.
“Mẹ muốn được cống hiến khi còn trẻ”
52 năm trôi qua, ký ức nhiều chuyện cũ đã lẫn vào nhau nhưng bà Hoàng Thị Kim Vinh (87 tuổi, phường Hoàn Kiếm, TP Hà Nội) chưa bao giờ quên tờ giấy báo tử gia đình giấu suốt nhiều năm vì sợ bà không chịu nổi cú sốc quá lớn. Ngày đó, những lá thư từ chiến trường thưa dần rồi bặt, bà vẫn tin chồng đang làm nhiệm vụ bí mật.

Nữ thanh niên xung phong Hoàng Thị Kim Vinh cùng con trai Nguyễn Hoàng Linh, năm 1967. ẢNH: NVCC
Mùa hè năm 1965, Hà Nội sục sôi phong trào “Ba sẵn sàng”. Bà Vinh là Bí thư Chi đoàn Hợp tác xã Dệt Thắng Lợi và là mẹ một cậu con trai 2 tuổi. Trong cuốn nhật ký viết cho con trước ngày lên đường, người mẹ trẻ tự hỏi mình: “Nộp đơn để mà đi hay nộp đơn vì hình thức?”. Rồi ngay sau đó, chính bà tự trả lời: “Mẹ muốn được cống hiến khi còn trẻ…”. Bấy giờ, chồng bà - ông Nguyễn Duy Khải - là tham mưu trưởng một tiểu đoàn, chiến đấu ở mặt trận phía Nam. Bà hiểu, một khi khoác ba lô lên đường, vợ chồng sẽ cùng trên tuyến lửa. Cuối cùng, người mẹ 26 tuổi vẫn quyết định gửi con lại cho ông bà ngoại, gia nhập Đội Thanh niên xung phong Thủ đô N43.
Chiều 17-7-1965, mẹ bà bế đứa cháu nhỏ đến tiễn con gái tại điểm tập kết trước giờ hành quân. Bà Vinh chạy vội ra ôm con vào lòng. Đúng lúc ấy, tiếng hô “Nghiêm!” của người chỉ huy vang lên. Đứa bé giật mình òa khóc. Người mẹ trẻ siết con thêm lần nữa rồi lặng lẽ trao cháu cho bà ngoại để trở về hàng ngũ. Đoàn quân tiến ra ga Hàng Cỏ. Chiếc ba lô nặng trĩu đã được đồng đội xách giúp. Khi tàu từ từ lăn bánh, qua ô cửa sổ, bà Vinh vẫn thấy mẹ già bế con trai đứng lặng trên sân ga, cánh tay nhỏ xíu của con đưa lên vẫy mãi…
Những năm ở Trường Sơn, điều khiến bà Vinh nhớ nhất không phải những trận bom mà là gương mặt những người nằm lại. Một buổi chiều năm 1966, đơn vị đang san lấp đường ở Kỳ Anh (Hà Tĩnh), tiếng kẻng báo động của nữ chiến sĩ Vũ Thị Sinh bất ngờ vang lên từ điểm gác trên cao. Tất cả kịp lao xuống hầm tránh loạt rốc-két từ máy bay Mỹ.
Tiếng nổ vừa dứt, bà Vinh chạy ngược lên tìm đồng đội. Chị Sinh vẫn ngồi đó, đầu gục xuống. Bà Vinh kể: “Tôi đỡ chị ấy vào lòng, gọi: “Sinh ơi! Sinh ơi!” nhưng chị đã vĩnh viễn im lặng...”. Chiều đó, từ lúc thi thể chị Sinh được đưa về căn lều làm nhà quàn tạm cho đến khi mai táng, một mình bà Vinh ngồi lặng lẽ bên đồng đội. Chị Sinh từng hẹn ước với một chiến sĩ lái xe Trường Sơn sau khi hoàn thành nhiệm vụ sẽ trở về Hà Nội làm đám cưới, nhưng lời hẹn ước không thành...
Cuộc gặp chốc lát và lời dặn “kiên cường”
Bà Vinh vẫn nhớ khi đơn vị đang mở đường ở Thanh Chương, Nghệ An thì chỉ huy gọi: “Vinh, xuống đại đội bộ có khách đặc biệt”. Bà bán tín bán nghi chạy xuống. Người khách ấy là ông Nguyễn Duy Khải. Trước đó ít ngày, khi về phép để chuẩn bị đi B (vào chiến trường miền Nam), ông mới biết vợ mình có mặt trong đoàn thanh niên xung phong của thủ đô mà ông gặp trên đường. Ông ở lại với con trai vài ngày rồi xin phép đơn vị tìm đến nơi vợ đang làm nhiệm vụ.
Gặp nhau chốc lát, bà Vinh lại đi làm đường cùng chị em. Bà nhớ mãi lời chồng dặn: “Cuộc kháng chiến của chúng ta còn kéo dài. Em phải giữ gìn sức khỏe, bình tĩnh và kiên cường”.
Ít lâu sau, trên đường hành quân, đơn vị bà đi qua nơi ông từng đóng quân. Một đồng đội của ông tìm gặp bà, báo rằng ông đã lên đường vào chiến trường miền Nam. Đó là lần cuối cùng bà nhận được tin về chồng. Những cánh thư sau đó thưa dần, đến năm 1968 thì bặt hẳn.
Năm 1971, gia đình nhận giấy báo tử nhưng giấu kín vì sợ bà không chịu nổi cú sốc mất chồng. Họ xin chính quyền hoãn cả lễ truy điệu. Mãi đến năm 1974, từ những câu hỏi úp mở của mấy người bạn, rồi sau chuyến về quê chồng, bà mới biết sự thật: ông đã hy sinh từ năm 1968 tại chiến trường Gia Lai.
Năm 1968, sau khi hoàn thành nhiệm vụ ở Trường Sơn, bà Vinh trở ra Bắc, thi vào Trường Trung cấp Giao thông rồi về công tác tại Thành đoàn Hà Nội. Những năm đó, trên nhiều công trường của thủ đô, người phụ nữ từng mở đường Trường Sơn lại cùng đồng đội đào hồ, làm đường, khắc phục hậu quả chiến tranh và xây dựng những công trình mới…
Người mẹ ấy vừa đi làm vừa nuôi con nhỏ. Trong thời gian công tác tại Thành đoàn, bà gặp ông Phạm Văn Đức, cũng là cựu thanh niên xung phong. Sau ngày đất nước thống nhất, họ xây dựng gia đình. Ông Đức cùng bà nuôi dạy con trai của liệt sĩ Nguyễn Duy Khải khôn lớn. Năm 1978, ông bà có thêm một con trai.
Nhiều năm sau, bà mang đến Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam trao cuốn nhật ký viết cho con trước ngày lên đường và bức ảnh chụp hai mẹ con trong kỳ nghỉ phép năm 1967. Trong ảnh, người mẹ thanh niên xung phong mỉm cười bên cậu con trai nhỏ. Sau nụ cười ấy là Trường Sơn, là những người không thể trở về và cả những người ở lại.
Ở tuổi 87, bà vẫn nhớ từng gương mặt đồng đội, vẫn nhắc tên người chồng đã hy sinh. Thời gian phủ màu khói sương lên tóc, hằn những nếp nhăn trên khuôn mặt nhưng nụ cười của người nữ thanh niên xung phong trong bức ảnh năm nào vẫn vẹn nguyên.











