Đi tìm câu hát cổ của người Nùng

Mỗi câu hát dân ca cổ xưa của đồng bào dân tộc thiểu số vùng Việt Bắc đều được ví như một mã nguồn văn hóa lưu giữ qua nhiều thế hệ. Ở Thái Nguyên, người Nùng có dân số đứng hàng thứ ba, phân chia thành năm nhóm địa phương rõ rệt gồm: Nùng Phàn Slình, Nùng Cháo, Nùng Inh, Nùng An và Nùng Giang. Trong đó, dòng Nùng Cháo sở hữu hình thức hát Mo với lớp mã văn hóa độc đáo về nhân sinh quan và vũ trụ quan của tộc người.

Nghệ sĩ Xuân Bách bên chùm xóc nhạc, đạo cụ cốt lõi làm nên lớp "mã văn hóa" trong hát Mo của người Nùng.

Lớp mã khác biệt từ chùm xóc nhạc, kiếm lệnh

Nhiều người thường nhầm lẫn hoặc đánh đồng giữa Mo và Then của người Tày, Nùng. Thực tế, đây là hai hình thức thực hành tín ngưỡng khác nhau. Điểm khác biệt cốt lõi cấu thành nên lớp mã văn hóa riêng của hát Mo nằm ở đạo cụ diễn xướng. Nếu như các thầy Then gảy đàn tính để dẫn đường cho hành trình lên mường Trời thì nghi lễ Mo của người Nùng sử dụng hai đạo cụ chính gồm chùm xóc nhạc và kiếm lệnh.

Về bản chất, các hệ phái tín ngưỡng như Then, Mo, Pụt hay Tào là những hình thức diễn xướng nghi lễ đặc sắc của đồng bào Tày, Nùng. Dù có không gian và luật tục riêng, tất cả đều là chỗ dựa tinh thần vững chắc, hướng con người tới điềm lành. Trong đời sống ấy, thầy Mo chính là sứ giả, là cầu nối linh thiêng giữa con người ở thế giới hiện đại và thần linh. Họ thay mặt gia chủ dâng lễ, trục tà và thực hiện các nghi thức vòng đời từ lễ đầy tháng, cấp sắc cho đến tang ma.

Mang màu sắc tâm linh huyền bí, hát Mo của người Nùng là một nghệ thuật diễn xướng tổng hợp. ở đó có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa âm nhạc nhảy quãng, vũ điệu và nguồn chất liệu văn học dân gian phong phú. Ca từ trong các bài Mo tuân theo thể thơ năm chữ hoặc bảy chữ truyền thống. Nội dung lời Mo là những chuyện kể đậm chất sử thi với hành trình vượt sông, băng ngàn đầy gian nan của vị thầy cùng đoàn binh mã tùy tùng trên đường đi tìm vía, hay du ngoạn qua các tầng trời.

Minh chứng rõ nhất cho tư duy tín ngưỡng của nhóm Nùng Cháo là bài Slình Slay, dịch ra tiếng Kinh có nghĩa là “Mời thầy” hoặc “Thỉnh thầy”. Đây là trích đoạn bắt buộc phải có và giữ vị trí mở đầu quyết định trong mọi nghi lễ truyền thống từ cúng giỗ tổ tiên, cầu phúc cho đến giải hạn.

Thầy trò lớp Dân ca Khóa 5, trường Cao đẳng VHNT Việt Bắc trong buổi thực hành bài Mo cổ Slình Slay.

Nghệ sĩ Nguyễn Xuân Bách, giảng viên Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật Việt Bắc, Chi hội trưởng Chi hội Văn nghệ dân gian thuộc Liên hiệp các hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Thái Nguyên, chia sẻ về cơ duyên tiếp cận điệu hát này: "Trong một lần trở về quê nghỉ Tết, tôi được tham dự một cuộc lễ Mo đầy tháng của người Nùng Cháo do một thầy Mo bản địa thực hành. Phần đầu tiên của cuộc lễ chính là trích đoạn Slình Slay. Ý nghĩa của bài Mo này là thỉnh mời các vị sư phụ, các bậc tổ sư đời trước về chứng giám, giúp đỡ cho cuộc lễ Mo được vẹn toàn. Tôi nhận thấy trích đoạn này rất hay, độc đáo cả về nội dung lẫn âm nhạc".

Lớp mã nội dung của Slình Slay truyền tải tinh thần “uống nước nhớ nguồn” sâu sắc. Đó là sự trân trọng, thành kính của các thế hệ đệ tử đối với bậc tiền nhân. Về mặt âm nhạc, bài Mo mang những đặc trưng nguyên bản độc đáo của âm nhạc dân tộc Nùng. Tiết tấu bài này có sự nhảy quãng lớn, sử dụng các yếu tố đảo phách, nhấn lệch rất mạnh mẽ. Giai điệu này kết hợp với nhịp gõ giòn giã của chùm xóc nhạc tạo nên một không gian âm thanh vừa trang nghiêm, vừa thúc giục.

Nỗ lực tiếp nối di sản văn hóa

Hiện nay, việc khai thác và đưa chất liệu âm nhạc Mo lên sân khấu, đến đại chúng chưa thể mạnh mẽ như Then của người Tày. Bởi để giải được mã văn hóa này, người học trẻ tuổi phải đối mặt với rào cản lớn về ngôn ngữ bản địa. Lời Mo cổ sử dụng nhiều từ ngữ cổ, mang tính ẩn dụ cao, đòi hỏi người học phải có vốn sống và sự am hiểu sâu sắc về phong tục.

Vượt qua những khó khăn đó, thầy và trò lớp Dân ca Khóa 5, Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật Việt Bắc đang nỗ lực gìn giữ di sản này. Bên cạnh việc tiếp thu bộ môn đàn và hát Then, việc đi sâu nghiên cứu điệu Mo cổ Slình Slay là cách những sinh viên như Nông Trường An, người dân tộc Nùng thuộc lớp Dân ca Khóa 5, tìm về bản sắc nguyên bản cội nguồn. An bày tỏ niềm xúc động khi thực hành bài Mo cổ rằng: "Đối với em, riêng bài Slình Slay lại có sự liên quan mật thiết đến tâm linh và thờ cúng tổ tiên. Khi được học và trình bày bài này cùng các thầy, em rất hồi hộp. Trong từng câu chữ, em luôn ý thức phải hát thật chỉn chu, thể hiện sự thành kính sâu sắc từ lời ca cho đến nhạc cảnh".

Sự chuyển biến trong nhận thức của những người trẻ như An chính là tín hiệu đáng mừng cho công tác bảo tồn văn hóa bản địa. Tuy nhiên, việc lưu giữ điệu Slình Slay vẫn đang gặp nhiều khó khăn. Là người vừa giảng dạy, nghiên cứu và tổ chức trình diễn, nghệ sĩ Xuân Bách trăn trở: "Các nghệ nhân am hiểu Mo cổ hiện nay đều đã lớn tuổi. Bài Slình Slay tôi sưu tầm từ một nghệ nhân năm nay đã hơn 80 tuổi, và cụ cũng vừa mới qua đời cách đây không lâu. Khi một nghệ nhân nằm xuống cũng đồng nghĩa với một phần kho tàng văn hóa dân gian mất đi".

Cũng theo anh Bách, nếu không tiến hành sưu tầm, ký âm bài bản một cách khẩn trương, phần di sản này sẽ đứng trước hai nguy cơ lớn. Một là sự đứt gãy truyền thừa, thế hệ sau không còn tư liệu gốc để nghiên cứu. Hai là quá trình truyền miệng tự phát giữa các thế hệ trẻ cũng dễ làm mất đi sự bài bản cốt lõi. Thậm chí, nhiều thực hành nghi lễ hiện nay đang bị biến đổi theo hướng tiêu cực, làm mất đi yếu tố gốc độc đáo của đồng bào.

Tín ngưỡng chỉ có thể sống bền bỉ khi nó chạm được vào tâm lý, tình cảm của con người. Giờ đây, việc giữ lấy làn điệu cổ như Slình Slay không còn là trách nhiệm trên giấy mực mà phải làm sao để chúng hòa thành tình yêu tự thân của những người trẻ. Để họ nỗ lực học lại tiếng mẹ đẻ, tập cách trân trọng cội nguồn, để mỗi khi tiếng xóc nhạc vang lên, lời thỉnh thầy thiêng liêng của người Nùng vẫn tìm được lối về trong đời sống hôm nay.

Kim Tuyến

Nguồn Thái Nguyên: https://baothainguyen.vn/van-hoa/202606/di-tim-cau-hat-co-cua-nguoi-nung-5c435a1/