Đi tìm di sản thời Tây Sơn...
Cuối thế kỷ 18, rừng núi phía tây đất Quảng từng là vùng đất tranh chấp quyết liệt giữa nghĩa quân Tây Sơn và quan quân Chúa Nguyễn.
Nơi đây có nhiều giai thoại và di tích liên quan đến hoạt động quân sự và thực thi các chính sách của nhà Tây Sơn, thiết nghĩ cần được đầu tư nghiên cứu, khám phá...

Cánh đồng Cửa trại. Ảnh: VT
“Đồng canh quan trại”
Mới đây, trong chuyến điền dã về Đại Lãnh cũ (nay thuộc xã Thượng Đức, thành phố Đà Nẵng), chúng tôi được ông Nguyễn Thanh Tám, Chủ tịch Hội người cao tuổi xã Thượng Đức, dẫn đến thăm một cánh đồng sát chân núi phía bắc từ nhánh rẽ Trường Sơn trải xuống đồng bằng, thuộc địa phận thôn Tịnh Đông Tây. Cánh đồng này rộng chừng 2,5 hecta, mang tên Cửa Trại. Tương truyền, từng là nơi đồn trú khá lâu của nghĩa quân Tây Sơn với danh xưng là Đồng canh quan trại.
Từ nơi đây, quân Tây Sơn tổ chức nhiều đợt chặn đánh quan quân Chúa Nguyễn và sau đó làm nhiệm vụ bảo vệ vùng tây Quảng Nam. Có khả năng “quan trại” này, thời gian sau, được giao lại cho dân bản địa dùng vào sản xuất nông nghiệp và mang tên mới - Cửa Trại? Cũng có thông tin cho rằng, vị nữ Đô đốc tài ba của triều đại Tây Sơn - Bùi Thị Xuân - từng có mặt và chỉ huy ở Đồng canh quan trại. Thông tin này cần được kiểm chứng song có một sự thật là một thời gian bà từng được triều đình tin tưởng cử vào trấn thủ Quảng Nam.
Rời Đồng canh quan trại, phải khá vất vả chúng tôi mới tìm được vị trí của một ngôi miếu cổ, từng được xem là miếu thiêng của làng Chấn Sơn (tức Non Tiên), thuộc thôn Thái Chấn Sơn, xã Thượng Đức.
Nằm cạnh cánh đồng Hóc Lầy, bị cây cối um tùm che khuất, miếu đã hoang phế từ lâu song dấu vết nền móng còn lại cho thấy quy mô tương đối lớn. Chiều dài khu miếu 10m, bề ngang chừng 5m. Đáng chú ý là trong khuôn viên ngôi miếu cổ còn một phần tượng voi cao hơn 1m.
Người dân Chấn Sơn cho hay, miếu có tên là miếu Ông Lương. Chuyện xưa còn lưu truyền, khi đoàn quân áo vải cờ đào từ Đồng canh quan trại vượt qua Hóc Lầy để truy đuổi Chúa Nguyễn, không may tại đây vị tướng Tây Sơn họ Lương (?) bị sa vào vũng sình lầy sâu lút đầu người, cả voi chiến và người đều tuẫn nạn. Để tưởng nhớ vị tướng giỏi và con voi quý, quân lính và dân làng chôn cất trang trọng, có tạc tượng dáng con voi nằm phủ phục phía trước ngôi mộ và lập miếu thờ.
Thiết nghĩ, miếu Ông Lương cần được địa phương sớm tổ chức phát lộ và tìm hiểu thêm về lai lịch để có cơ sở đầu tư phục dựng di tích, góp phần làm phong phú thêm hệ thống di sản nhà Tây Sơn ở vùng tây đất Quảng.
“Tây Sơn hy hữu” và Tr’hy
Theo tài liệu để lại của nhà nghiên cứu Nguyễn Hải Triều, đã thành một tập quán, mỗi khi gặp điều gì đó khiến mình kinh ngạc, người dân các làng thuộc các xã Đại Lãnh, Đại Hưng trước đây thường thốt lên câu nói cửa miệng: “Đúng là Tây Sơn hy hữu!”. Nghĩa là hiếm có ai làm được như nhà Tây Sơn!
Trò chuyện với chúng tôi, các vị cao niên ở thôn Tịnh Đông Tây, xã Thượng Đức cho hay, câu nói này có “tích” gắn với sự ra đời các chính sách vì dân của nhà Tây Sơn. Đó là khi khởi phát phong trào Tây Sơn, các lãnh tụ chủ trương “lấy của người giàu chia cho người nghèo”.
Còn ngay sau đại thắng quân Thanh, vua Quang Trung ban Chiếu khuyến nông, đề ra nhiệm vụ phục hồi nông nghiệp, trong đó yêu cầu dân lưu tán (vì chiến tranh) nhanh chóng hồi hương về nơi chôn nhau cắt rốn để khai khẩn đất hoang và “tòng sự nông tang” (làm ruộng, chăn tằm) nhằm có đủ cơm ăn áo mặc.
Ruộng đất công của làng xã được chia cho dân cày cấy, đảm bảo cho người nông dân có điều kiện sản xuất và góp phần giải quyết căn bản tình trạng ruộng đất bỏ hoang. Chính các chính sách vị quốc, vị dân này đã giúp cho Đại Việt, trong đó có đất Quảng, nhanh chóng đi vào ổn định, khởi đầu cho quốc thái dân an. Cảm kích trước những chủ trương đậm tính nhân văn của vua Quang Trung và nhà Tây Sơn, người dân vùng tây đất Quảng ngợi ca là “Tây Sơn hy hữu”.
Điều khá thú vị là câu nói “Tây Sơn hy hữu” lại liên quan đến việc hình thành tên gọi một làng dân tộc thiểu số Cơ Tu ở đất Quảng. Trong bài viết Tên làng người Cơ Tu, nhà nghiên cứu Nguyễn Tri Hùng cho hay, khi Nguyễn Ánh lên làm vua, khởi đầu cho triều Nguyễn, để tránh bị truy sát, một số quân lính Tây Sơn ở vùng Đại Lãnh đã chạy trốn lên vùng miền núi, nơi người Cơ Tu sinh sống, giáp với nước Lào. Ở đấy họ được người dân địa phương đùm bọc, che chở, nuôi nấng và trở thành con dân Cơ Tu.
Những người này thường kể cho đồng bào Cơ Tu nghe những việc làm tốt đẹp của nhà Tây Sơn và thường nói câu “Tây Sơn hy hữu”. Chính từ câu chuyện này mà người dân tại đây lấy luôn cụm từ “Tây Sơn hy hữu” để đặt tên cho làng mình. Vì cái tên quá dài nên được rút gọn lại là Tây hy, về sau biến âm thành Tr’hy. Phải chăng đây chính là di sản độc đáo nữa thời Tây Sơn?
Tr’hy trước đây thuộc huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam, nay thuộc xã Hùng Sơn, thành phố Đà Nẵng.
Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/di-tim-di-san-thoi-tay-son-3326127.html












