Điểm lại thông tin kinh tế tuần từ 16-20/3

Tỷ giá trung tâm tăng 20 đồng, chỉ số VN-Index giảm 48,43 điểm so với phiên cuối tuần trước đó hay tuần qua, NHNN hút ròng 84.335,95 tỷ đồng qua kênh thị trường mở... là một số thông tin kinh tế đáng chú ý trong tuần từ 16-20/3.

Điểm lại thông tin kinh tế

Điểm lại thông tin kinh tế

Tổng quan

Hầu hết các ngân hàng trung ương lớn “án binh bất động” sau các cuộc họp chính sách thường kỳ vừa diễn ra tuần qua, trong bối cảnh căng thẳng Trung Đông leo thang, gây ra nhiều sự bất định về kinh tế và lạm phát.

Trong tuần vừa qua, các ngân hàng trung ương lớn như Fed (Mỹ), ECB (châu Âu), BoE (Anh), (RBA) Úc và BoJ (Nhật Bản) đều có cuộc họp quan trọng về triển vọng kinh tế và chính sách tiền tệ. Trong đó, đáng chú ý nhất là Fed, cơ quan quyết định chính sách tiền tệ nước Mỹ và xu hướng của đồng USD, nên có tầm ảnh hưởng toàn cầu.

Trong cuộc họp ngày 17-18/3, Fed nhận định kinh tế Mỹ vẫn tăng trưởng vững chắc, song thị trường lao động tạo ra ít việc làm mới và tỷ lệ lạm phát đang ở mức cao. Cơ quan này dự báo GDP nước thángỹ năm 2026 và 2027 có thể lần lượt tăng 2,4% và 2,3% (+0,1 điểm phần trăm và +0,3 điểm phần trăm so với dự báo tại cuộc họp tháng 12/2025); tỷ lệ thất nghiệp được dự báo lần lượt ở mức 4,4% và 4,3% (không đổi và +0,1 điểm phần trăm); về lạm phát, chỉ số PCE toàn phần được dự báo lần lượt tăng 2,7% và 2,2% (+0,3 điểm phần trăm và +0,1 điểm phần trăm); PCE lõi cũng tăng 2,7% và 2,2% (+0,2 điểm phần trăm và +0,1 điểm phần trăm) (trong năm 2025, PCE lõi so với cùng kỳ tại thángỹ dao động chủ yếu quanh 2,7% và tăng dần lên mức 3,1% những tháng gần đây).

Trong bối cảnh hai mục tiêu là toàn dụng lao động và giữ lạm phát ổn định quanh mức 2,0% đang xuất hiện sự xung đột, Fed quyết định giữ lãi suất chính sách không đổi ở mức 3,50% - 3,75%. Dự báo của Fed cũng cho thấy có một lần cắt giảm lãi suất chính sách trong năm 2026, không thay đổi so với kết quả ở cuộc họp 12/2025. Sau cuộc họp, Chủ tịch Fed Jerome Powell trả lời báo chí cứng rắn rằng Fed sẽ không hạ lãi suất chừng nào chưa thấy quá trình hạ lạm phát có tiến triển. Bên cạnh đó, ông Powell cũng nhấn mạnh tính bất định đang “cao bất thường”, và lập mô hình chính sách để phù hợp với bối cảnh hiện tại là “gần như không thể”.

Đối với một số ngân hàng trung ương khác là ECB, BoE và BoJ, 3 cơ quan này đều cũng không điều chỉnh lãi suất chính sách trong cuộc họp tháng 3, lần lượt giữ nguyên ở 2,15%; 3,75% và 0,75% (BOE và BoJ đều sử dụng lãi suất tiền gửi qua đêm kỳ hạn qua đêm làm lãi suất chính sách; ECB sử dụng bộ 3 lãi suất chính sách, trong đó đại diện là lãi suất cho vay tái cấp vốn kỳ hạn 1 tuần). Cả 3 nền kinh tế trên đều có tốc độ tăng trưởng kinh tế không thật tích cực, nhưng bối cảnh lạm phát khác nhau dẫn đến sự phân hóa về xu hướng và mức lãi suất chính sách khác nhau (ECB và BoE đang trong quá trình cắt giảm, còn BoJ trong quá trình nâng lãi suất chính sách).

Cụ thể, tại Eurozone, CPI toàn phần đã về quanh ngưỡng 2,0% kể từ cuối năm 2024 và ECB cũng là cơ quan cắt giảm lãi suất chính sách nhiều nhất trong 5 ngân hàng trung ương đang được đề cập. Đối với BoE, quá trình hạ lạm phát gập gềnh trở lại kể từ cuối năm 2024, CPI toàn phần nước Anh tăng trở lại trong năm 2025, có lúc lên tới 3,8% và hiện tại ở mức 3,0%. Đối với BoJ, CPI so với cùng kỳ chỉ vừa trở lại mức dưới 2,0% sau một quãng thời gian dài 4 năm dao động quanh ngưỡng 3%.

Cuối cùng, về RBA, cơ quan này nhận định lạm phát đã giảm đáng kể so với đỉnh năm 2022, nhưng có xu hướng tăng trở lại rõ rệt từ nửa cuối 2025, chủ yếu do kinh tế Úc diễn biến tích cực và một phần do rủi ro địa chính trị tác động. CPI so với cùng kỳ tại Úc hiện là 3,8%. Theo đó, trong nhóm các ngân hàng trung ương lớn kể trên, RBA là ngân hàng trung ương duy nhất tăng lãi suất chính sách trong tháng 3, từ mức 3,85% lên 4,10%.

Có thể thấy kể từ khi chiến sự tại Iran nổ ra đã kéo theo nhiều sự bất định, ảnh hưởng tới triển vọng kinh tế và lạm phát toàn cầu, nguy cơ đình lạm dâng cao (giá dầu tăng vọt, có lúc đạt đỉnh gần 120 USD/thùng; giá các loại khí đốt tăng phi mã). Các ngân hàng trung ương lớn trên thế giới đều cho thấy tình trạng khó khăn trong dự báo và buộc phải cẩn trọng trong hành động dù ở bất kỳ vị thế nào.

Đối với Việt Nam, kinh tế và tài chính trong nước cũng sẽ chịu ảnh hưởng lớn từ các yếu tố quốc tế tiêu cực. NHNN, có lẽ cũng không ngoại lệ, đang gặp thách thức lớn trong quá trình theo đuổi đa mục tiêu. Có thể dự đoán, trong ngắn hạn, NHNN sẽ cố gắng điều tiết cả tỷ giá và lãi suất một cách thận trọng và linh hoạt nhất, chờ đợi giai đoạn sóng gió đi qua, trước khi quyết định lựa chọn mục tiêu ưu tiên một cách rõ ràng, rành mạch hơn.

Tóm lược thị trường trong nước tuần từ 16 - 20/3

Thị trường ngoại tệ tuần từ 16 - 20/3, tỷ giá trung tâm được NHNN điều chỉnh theo xu hướng tăng. Chốt ngày 20/03, tỷ giá trung tâm được niêm yết ở mức 25.085 VND/USD, tăng 20 đồng so với phiên cuối tuần trước.

NHNN niêm yết tỷ giá mua USD ở mức 23.881 VND/USD, cao hơn 50 đồng so với tỷ giá sàn; trong khi đó, giá bán USD được niêm yết mức ở mức 26.289 VND/USD, thấp hơn 50 đồng so với tỷ giá trần.

Tỷ giá đô-đồng liên ngân hàng trong tuần từ 16/03 - 20/03 tiếp tục tăng - giảm đan xen qua các phiên. Kết thúc phiên 20/3, tỷ giá liên ngân hàng đóng cửa tại 26.306 VND/USD, tăng 11 đồng so với phiên cuối tuần trước.

Tỷ giá đô-đồng trên thị trường tự do biến động tăng - giảm đan xen giữa các phiên. Chốt phiên 20/3, tỷ giá tự do giảm 150 đồng ở chiều mua vào và 90 đồng ở chiều bán ra so với phiên cuối tuần trước đó, giao dịch tại 27.000 VND/USD và 27.100 VND/USD.

Thị trường tiền tệ liên ngân hàng tuần từ 16 - 20/3, lãi suất VND liên ngân hàng tăng ở tất cả các kỳ hạn. Kết thúc ngày 20/03, lãi suất VND liên ngân hàng giao dịch ở mức: qua đêm 4,20% (+0,20 điểm phần trăm); 1 tuần 5,70% (+0,90 điểm phần trăm); 2 tuần 7,10% (+1,60 điểm phần trăm); 1 tháng 7,40% (+0,10 điểm phần trăm).

Lãi suất USD liên ngân hàng biến động tăng - giảm nhẹ qua các phiên, chốt phiên cuối tuần giao dịch ở mức không thay đổi so với phiên cuối tuần trước đó ở tất cả các kỳ hạn, cụ thể: qua đêm 3,60%; 1 tuần 3,69%; 2 tuần 3,73% và 1 tháng 3,75%.

Trên thị trường mở tuần từ 16 - 20/3, ở kênh cầm cố, NHNN chào thầu 15.000 tỷ đồng với các kỳ hạn 7 ngày, 28 ngày và 56 ngày, lãi suất đều duy trì ở mức 4,5%. Có 14.978,76 tỷ đồng trúng thầu. Có 99.314,71 tỷ đồng đáo hạn trên kênh cầm cố.

NHNN không chào thầu tín phiếu NHNN trong tuần từ 16 - 20/3.

Như vậy, tuần qua, NHNN hút ròng 84.335,95 tỷ đồng từ thị trường qua kênh thị trường mở. Có 243.046,94 tỷ đồng lưu hành trên kênh cầm cố.

Thị trường trái phiếu phiên 18/3, kho bạc nhà nước đấu thầu thành công 9.220 tỷ đồng/13.500 tỷ đồng trái phiếu chính phủ gọi thầu, tương đương tỷ lệ trúng thầu đạt 68%. Trong đó, kỳ hạn 5 năm huy động được 60 tỷ đồng/1.000 tỷ đồng gọi thầu, kỳ hạn 10 năm huy động được 9.060 tỷ đồng/11.000 tỷ đồng gọi thầu và kỳ hạn 15 năm huy động được 100 tỷ đồng/1.000 tỷ đồng gọi thầu. Kỳ hạn 20 năm gọi thầu 500 tỷ đồng, tuy nhiên, không có khối lượng trúng thầu. Lãi suất trúng thầu ở kỳ hạn 5 năm là 3,50% (+0,20 điểm phần trăm so với phiên đấu thầu trước), 10 năm là 4,11% (không đổi) và 15 năm là 4,20% (+0,08 điểm phần trăm).

Ngày 25/3, kho bạc nhà nước dự kiến chào thầu 13.500 tỷ đồng trái phiếu chính phủ, trong đó kỳ hạn 5 năm chào thầu 1.000 tỷ đồng, kỳ hạn 10 năm chào thầu 11.000 tỷ đồng, kỳ hạn 15 năm chào thầu 1.000 tỷ đồng và kỳ hạn 30 năm chào thầu 500 tỷ đồng.

Giá trị giao dịch Outright và Repos trên thị trường thứ cấp trong tuần đạt trung bình 17.047 tỷ đồng/phiên, tăng so với mức 14.753 tỷ đồng/phiên của tuần trước đó. Lợi suất trái phiếu chính phủ trong tuần tăng khá mạnh ở các kỳ hạn dưới 5 năm trong khi ít biến động ở các kỳ hạn còn lại. Chốt phiên 20/03, lợi suất trái phiếu chính phủ giao dịch quanh 1 năm 3,19% (+0,05 điểm phần trăm so với phiên cuối tuần trước đó); 2 năm 3,28% (+0,04 điểm phần trăm); 3 năm 3,37% (+0,04 điểm phần trăm); 5 năm 4,04% (+0,01 điểm phần trăm); 7 năm 4,08% (+0,003 điểm phần trăm); 10 năm 4,20% (+0,01 điểm phần trăm); 15 năm 4,31% (không đổi); 30 năm 4,44% (không đổi).

Thị trường chứng khoán tuần từ 16 - 20/3, thị trường chứng khoán diễn biến tiêu cực, các chỉ số giảm mạnh qua hầu hết các phiên, đặc biệt phiên cuối tuần. Kết thúc phiên 20/03, VN-Index đứng ở mức 1.647,81 điểm, giảm mạnh 48,43 điểm (-2,86%) so với phiên cuối tuần trước đó; HNX-Index mất 2,38 điểm (-0,97%) về mức 243,46 điểm; UPCoM-Index lùi 1,01 điểm (-0,81%) còn 123,74 điểm.

Thanh khoản thị trường trung bình đạt khoảng gần 22.900 tỷ đồng/phiên, giảm mạnh từ mức 34.100 tỷ đồng/phiên của tuần trước đó. Khối ngoại bán ròng mạnh hơn 4.700 tỷ đồng trên cả 3 sàn.

Tin quốc tế

Nước Mỹ đón một số chỉ báo kinh tế đáng chú ý. Đầu tiên, Văn phòng Thống kê Mỹ cho biết chỉ số giá sản xuất PPI toàn phần và PPI lõi của nước này lần lượt tăng 0,7% và 0,5% so với tháng trước trong tháng 2, nối tiếp đà tăng 0,5% và 0,8% của tháng trước đó, đồng thời cao hơn dự báo cùng tăng 0,3%. So với cùng kỳ năm 2025, PPI và PPI lõi lần lượt tăng 3,4% và 3,5% trong tháng vừa qua, cùng mở rộng so với mức tăng 2,9% và 3,4% của tháng 1. Nguyên nhân chủ yếu đến từ giá thực phẩm và giá năng lượng tháng 2 lần lượt tăng 2,4% và 2,3% so với cùng kỳ, đảo ngược mức giảm 1,4% và 2,3% ghi nhận ở tháng đầu năm.

Tại thị trường lao động, số đơn xin trợ cấp thất nghiệp lần đầu tại thángỹ tuần kết thúc ngày 14/3 ở mức 205 nghìn đơn, giảm nhẹ từ 213 nghìn đơn của tuần trước đó và thấp hơn mức 215 nghìn đơn theo dự báo. Số đơn bình quân 4 tuần gần nhất ở mức 210,75 nghìn đơn, giảm nhẹ 0,75 nghìn so với bình quân 4 tuần trước đó.

Tiếp theo, về thị trường bất động sản, doanh số bán nhà mới tại Mỹ đạt 587 nghìn căn trong tháng 2, giảm so với 712 nghìn căn của tháng 1 và cũng thấp hơn khá nhiều so với mức 722 nghìn căn theo dự báo. Bên cạnh đó, doanh số nhà chờ bán tại nước này tăng 1,8% so với tháng trước trong tháng 2 sau khi giảm 1,0% ở tháng 1, trái với dự báo tiếp tục giảm 0,6%. So với cùng kỳ năm 2025, doanh số nhà chờ bán ở tháng vừa qua giảm khoảng 0,8% so với cùng kỳ.

Cuối cùng, sản lượng công nghiệp tại Mỹ tăng 0,2% so với tháng trước trong tháng 2, nối tiếp đà tăng 0,7% của tháng 1 và gần khớp với dự báo tăng 0,1%. So với cùng kỳ, sản lượng công nghiệp tăng khoảng 1,3% so với cùng kỳ.

Nước Anh cũng ghi nhận nhiều thông tin kinh tế quan trọng. Về thị trường lao động, nước Anh tạo ra 24,7 nghìn việc làm mới trong tháng 1, cao hơn mức 4,7 nghìn của tháng 12 và gần khớp với dự báo ở mức 25,8 nghìn. Tỷ lệ thất nghiệp tại Anh trong tháng đầu năm ở mức 5,2%, không thay đổi so với tháng trước đó và trái với dự báo tăng nhẹ lên 5,3%. Thu nhập bình quân của người lao động Anh tháng 2 tăng khoảng 3,9% so với ba tháng cùng kỳ trong 3 tháng 11-12-01, bằng với mức tăng 4,2% của 3 tháng 10-11-12 và khớp với dự báo của thị trường. Đà tăng thu nhập của người lao động Anh vẫn đang cho thấy sự thu hẹp dần kể từ đầu năm 2025 cho tới nay, mức tăng 3,9% nói trên là mức thấp nhất kể từ tháng 10/2024.

Tiếp theo, tổ chức Rightmove khảo sát cho biết giá nhà tại Anh tăng khoảng 0,8% so với tháng trước trong tháng 3 lên mức 371 nghìn GBP/căn, sau khi đi ngang ở tháng 2. Trong tuần này, nước Anh chờ đợi thông tin về chỉ số giá tiêu dùng CPI, được công bố vào chiều ngày 25/03 theo giờ Việt Nam.

P.L

Nguồn TBNH: https://thoibaonganhang.vn/diem-lai-thong-tin-kinh-te-tuan-tu-16-203-179263-179263.html