Điện phải đi trước tốc độ tăng trưởng
Phụ tải tăng nhanh, áp lực không còn theo mùa
Tốc độ tăng trưởng kinh tế đang tạo áp lực ngày càng lớn lên hệ thống điện. Theo Bộ Công Thương, GDP 6 tháng đầu năm 2026 tăng 8,18%, riêng quý II tăng 8,39%. Trong khi đó, sản lượng điện sản xuất và nhập khẩu toàn hệ thống 6 tháng đạt khoảng 171,1 tỷ kWh, tăng 9,5% so với cùng kỳ.
Đến hết tháng 8, sản lượng điện toàn hệ thống đạt khoảng 235,9 tỷ kWh, tăng 9,4% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đợt cao điểm tháng 6, công suất cực đại toàn quốc đã lên tới 58.456 MW - mức cao nhất được ghi nhận.
Đáng chú ý, áp lực phụ tải đang dịch chuyển từ câu chuyện “mùa nóng” sang yêu cầu đáp ứng một nền kinh tế có mức tiêu thụ điện ngày càng lớn.

EVN bảo đảm đủ công suất và nâng khả năng truyền tải, phân phối.
Tại hội nghị ngày 28/7 về cung ứng điện những tháng cuối năm 2026 và xây dựng kế hoạch điều hành hệ thống điện năm 2027, Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng yêu cầu phải chủ động các kịch bản, bảo đảm cân đối nguồn - lưới - phụ tải theo từng khu vực, tránh tình trạng có nguồn nhưng thiếu hạ tầng truyền tải để giải tỏa công suất.
Cục Điện lực, Công ty Vận hành hệ thống điện và thị trường điện Quốc gia (NSMO) và chuyên gia đều cho rằng phát triển nguồn và lưới phải đi trước nhu cầu phụ tải.
EVN vừa tăng nguồn, vừa gia cố “đường dẫn” điện
Ở phía vận hành, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đang phải xử lý đồng thời 2 bài toán: bảo đảm đủ công suất và nâng khả năng truyền tải, phân phối.
Trong 7 tháng đầu năm, EVN và các đơn vị đã khởi công 98 công trình lưới điện, trong đó có 2 công trình 500 kV, 13 công trình 220 kV và 83 công trình 110 kV; đồng thời đóng điện 100 công trình. EVN cũng đặt mục tiêu hoàn thành toàn bộ 305 MW hệ thống pin lưu trữ năng lượng (BESS) trong tháng 8.
Thực tế vận hành đầu tháng 9 cho thấy quy mô phụ tải vẫn rất lớn. Ngày 8/9, công suất lớn nhất toàn hệ thống đạt hơn 52.957 MW theo số liệu thương phẩm, trong khi sản lượng điện sản xuất và nhập khẩu đạt khoảng 1,098 tỷ kWh. Nhiệt điện than tiếp tục giữ vai trò lớn với sản lượng hơn 500 triệu kWh trong ngày.
Điều này cho thấy, trong ngắn hạn, hệ thống điện Việt Nam vẫn cần dựa vào sự kết hợp giữa thủy điện, nhiệt điện than, khí và năng lượng tái tạo; đồng thời nâng cao khả năng điều độ linh hoạt.
PETROVIETNAM giữ mạch cho điện khí
Nếu EVN là đơn vị vận hành hệ thống thì Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (PETROVIETNAM) đang đứng ở một mắt xích quan trọng khác: bảo đảm nguồn nhiên liệu khí cho các nhà máy điện.
Trong tháng 8 vừa qua, Tổng Giám đốc PETROVIETNAM Lê Mạnh Cường đã tổ chức làm việc với chuỗi Khí - Điện - Đạm Đông Nam Bộ để đánh giá nguồn khí cho phát điện trong năm 2027 và các năm tiếp theo. Dự báo nguồn khí nội địa năm 2027 cho thấy có tăng trưởng so với năm 2026. Trong đó, PV GAS cho rằng sản lượng khí cấp lớn hơn so với nhu cầu huy động khí cho sản xuất điện.

Tổng Giám đốc PETROVIETNAM Lê Mạnh Cường kiểm tra hoạt động tại Nhà máy Điện Nhơn Trạch 3&4
Tại Nhà máy điện Nhơn Trạch 3&4, sau khi vận hành thương mại toàn bộ từ tháng 1/2026, nhà máy cơ bản vận hành an toàn. PETROVIETNAM yêu cầu các đơn vị tiếp tục tối ưu vận hành, kiểm soát chi phí và nâng cao hiệu quả sử dụng nhiên liệu. PV Power đồng thời kiến nghị tháo gỡ các vấn đề về hợp đồng mua bán điện và cơ chế huy động LNG tại Kho LNG Thị Vải vào những thời điểm hệ thống có nhu cầu cao.
Đây là một trong những yếu tố quan trọng để hệ thống điện có thêm nguồn cung linh hoạt khi phụ tải tăng cao. Trong bức tranh này, Nhà máy Điện Nhơn Trạch 3&4 có ý nghĩa rất quan trọng với hệ thống điện quốc gia.
Theo cập nhật tháng 8, sản lượng điện của PV Power tăng mạnh trong nửa đầu năm, trong đó điện khí LNG từ Nhơn Trạch 3&4 trở thành động lực mới khi nhu cầu điện quốc gia ở mức cao. Nếu LNG được huy động hiệu quả, đây sẽ là nguồn bổ trợ quan trọng cho hệ thống trong những thời điểm cần công suất linh hoạt, đặc biệt khi thủy điện phụ thuộc thủy văn và năng lượng tái tạo biến động theo thời tiết.
Vấn đề còn lại là cơ chế giá, hợp đồng mua bán điện và khả năng huy động khí/LNG phải đủ linh hoạt để nguồn điện này thực sự phát huy vai trò khi hệ thống cần.
Cùng với đó, PETROVIETNAM đang thúc đẩy chuỗi dự án khí - điện Lô B - Ô Môn. Tập đoàn yêu cầu đẩy nhanh tiến độ các dự án Ô Môn III, Ô Môn IV nhằm đồng bộ với nguồn khí Lô B; dòng khí đầu tiên dự kiến vào tháng 8/2027.
TKV bảo đảm than cho điện
Ở phía nhiệt điện than, Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong bảo đảm nhiên liệu cho các nhà máy.
Bộ Công Thương cho biết nhu cầu than cho phát điện năm 2026 tiếp tục ở mức cao, trên 80 triệu tấn, trong khi sản lượng than khai thác trong nước bình quân chỉ khoảng 40-45 triệu tấn/năm. Việt Nam dự kiến phải nhập khẩu khoảng 17-19 triệu tấn than bitum và á bitum cho sản xuất điện.
Đây cũng là lý do Bộ Công Thương đã tổ chức cuộc họp riêng về nguồn than nhập khẩu cho phát điện, trong khi TKV và EVN tiếp tục phối hợp bảo đảm nguồn than cho các nhà máy điện. Bài toán nguồn than không chỉ nằm ở sản lượng khai thác mà còn ở khả năng nhập khẩu, logistics và dự trữ đủ an toàn trước những biến động của thị trường quốc tế.
Nhìn từ những tháng cuối năm, bài toán cung ứng điện của Việt Nam đang chuyển sang một cấp độ mới. Hệ thống phải có đủ nguồn, đủ nhiên liệu, đủ lưới truyền tải và đủ độ linh hoạt để đáp ứng một nền kinh tế tăng trưởng nhanh.
Bộ Công Thương đang yêu cầu Cục Điện lực và NSMO xây dựng sớm kịch bản cung ứng điện; EVN đẩy nhanh các công trình lưới và BESS; PETROVIETNAM bảo đảm chuỗi khí điện, thúc đẩy LNG và các dự án Ô Môn; TKV duy trì nguồn than trong nước và chuẩn bị nguồn nhập khẩu.
