Điều khiến du khách chi trả 90 tỷ USD cho ngành du lịch Việt Nam
Mục tiêu 80-90 tỷ USD doanh thu du lịch vào năm 2030 không chỉ dựa vào tăng trưởng lượng khách, mà cần nâng giá trị mỗi chuyến đi bằng trải nghiệm "khó thay thế", theo chuyên gia.

Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế và Du lịch
Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị về phát triển du lịch Việt Nam trong kỷ nguyên mới chỉ ra mục tiêu cụ thể đến năm 2030, ngành du lịch đóng góp trực tiếp 10-12% GDP, giữ vững vị thế nhóm đầu khu vực Đông Nam Á về quy mô và tốc độ tăng trưởng; phấn đấu đón 45-50 triệu lượt khách quốc tế, phục vụ 160 triệu lượt khách nội địa, đặt trọng tâm vào thị trường khách chi tiêu cao, lưu trú dài ngày; tổng thu từ khách du lịch đạt 80-90 tỷ USD.
TS Dương Đức Minh, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế và Du lịch, nhận định câu chuyện tăng mức chi tiêu và kéo dài thời gian lưu trú của du khách không đơn thuần nằm ở lựa chọn một danh mục sản phẩm, mà sâu xa hơn là cấu trúc giá trị của trải nghiệm du lịch.
Trong kinh tế trải nghiệm, giá trị gia tăng không chỉ đến từ số lượng dịch vụ được cung cấp mà còn phụ thuộc vào mức độ tham gia và sự thay đổi trong trải nghiệm của du khách.
"Mức chi tiêu và thời gian lưu trú không thể được kéo lên một cách cơ học bằng giảm giá, tăng khuyến mãi hay bổ sung thêm dịch vụ. Kết quả phụ thuộc vào khả năng điểm đến tạo ra những trải nghiệm đủ sâu sắc, khác biệt và khó thay thế hay không", TS Dương Đức Minh nói với Tri Thức - Znews.




Du khách đổ về Đại nội Huế trong kỳ nghỉ lễ 2/9. Đây là địa phương ghi nhận mức tăng trưởng kỷ lục về lượng khách và doanh thu. Ảnh: Châu Sa.
Du lịch không phải là quá trình đưa khách đến một nơi có sẵn
Theo chuyên gia, nghỉ dưỡng biển đảo, du lịch du thuyền, MICE (du lịch kết hợp hội thảo), golf, chăm sóc sức khỏe, du lịch y tế, mua sắm hay kinh tế đêm không nên được xem là những sản phẩm cạnh tranh riêng lẻ, mà cần được đặt trong một hệ sinh thái tạo giá trị nhiều tầng.
▸ Nhóm đầu tiên là những "mỏ neo tạo nền tảng trải nghiệm", tiêu biểu như nghỉ dưỡng biển đảo cao cấp và du lịch du thuyền. Các mô hình này có khả năng kéo dài thời gian lưu trú tự nhiên khi tích hợp lưu trú, ẩm thực, giải trí, chăm sóc sức khỏe, thể thao và thư giãn trong cùng một chuỗi giá trị.
▸ Nhóm thứ hai là những "mỏ neo tạo động lực đến điểm đến", nổi bật với MICE và golf. Đây là những sản phẩm có khả năng tạo mức chi tiêu cao do hành vi tiêu dùng không chỉ đến từ nhu cầu cá nhân mà còn gắn với doanh nghiệp, cộng đồng nghề nghiệp hoặc các sự kiện quốc tế.

Du thuyền 5 sao ngủ qua đêm trên vịnh Hạ Long, Quảng Ninh, cuối tháng 4. Ảnh: Đinh Hà.
▸ Nhóm còn lại là những hệ sinh thái gia tăng giá trị tiêu dùng như chăm sóc sức khỏe, du lịch y tế, mua sắm và kinh tế đêm. TS Dương Đức Minh cho rằng đây thường không phải động lực ban đầu khiến du khách lựa chọn điểm đến nhưng có thể làm tăng đáng kể mức chi tiêu trong mỗi ngày lưu trú.
Trong đó, kinh tế đêm cần được nhìn nhận không chỉ như sản phẩm giải trí mà còn là một "hạ tầng thời gian" của điểm đến, bởi nó quyết định khoảng thời gian sau 21h của du khách tiếp tục tạo ra giá trị kinh tế hay bị bỏ trống.

Theo chuyên gia, Việt Nam phải thay đổi cách nhìn về du lịch: du lịch không phải là quá trình đưa khách đến một nơi có sẵn, mà là quá trình thiết kế một hành trình giá trị, trong đó mỗi điểm chạm đều góp phần làm sâu sắc hơn trải nghiệm của du khách.
"Chính khả năng tạo ra trải nghiệm có chiều sâu mới là nền tảng để tăng chi tiêu, kéo dài lưu trú và nâng cao hiệu quả kinh tế du lịch.
Nghị quyết 26-NQ/TW khi nhấn mạnh các nhóm sản phẩm chiến lược như nghỉ dưỡng biển đảo, chăm sóc sức khỏe, thể thao, MICE, mua sắm gắn với công nghiệp văn hóa và kinh tế đêm thực chất đang hướng tới việc hình thành một hệ sinh thái đa tầng về giá trị, thay vì chỉ cộng gộp các sản phẩm đơn lẻ", ông Minh nói.
Lợi thế và nút thắt
Nếu phải xác định một lợi thế cạnh tranh có khả năng trở thành dấu ấn riêng của Việt Nam trong khu vực, TS Dương Đức Minh cho rằng đó không phải một sản phẩm đơn lẻ mà là tổ hợp nghỉ dưỡng biển đảo cao cấp tích hợp MICE, chăm sóc sức khỏe và trải nghiệm văn hóa bản địa.
Theo ông, một quốc gia có lợi thế bền vững khi sở hữu những nguồn lực mà đối thủ khó sao chép trong thời gian ngắn.
Việt Nam có hơn 3.200 km bờ biển, hệ thống vịnh, đảo, vùng sinh thái biển đa dạng cùng sự kết nối giữa không gian biển và các trung tâm đô thị lớn. Đây không chỉ là lợi thế về cảnh quan mà còn là nền tảng địa lý để hình thành các tổ hợp trải nghiệm cao cấp.




Vũng Tàu (TP.HCM), Phú Quốc, Nha Trang và Đà Nẵng sở hữu những bãi biển đẹp nhất Việt Nam. Ảnh: Quỳnh Danh, Linh Huỳnh, Xuân Hoát.
Việt Nam có khả năng kết hợp tài nguyên nghỉ dưỡng biển đảo với MICE và các đô thị lớn hỗ trợ dịch vụ quốc tế. Khi cảnh quan tự nhiên được kết nối với hạ tầng hội nghị, sân bay quốc tế, chuỗi khách sạn thương hiệu toàn cầu và năng lực tổ chức sự kiện, điểm đến có thể tạo ra trải nghiệm vừa dựa trên tài nguyên tự nhiên, vừa có khả năng tổ chức quy mô lớn.
Tuy nhiên, lợi thế về tài nguyên không tự động chuyển thành năng lực cạnh tranh.
“Khoảng cách giữa một nơi có tài nguyên đẹp và một điểm đến đẳng cấp quốc tế nằm ở năng lực quản trị và tổ chức giá trị”, ông nói, chỉ ra một số "nút thắt" cần giải quyết.
Năng lực kết nối hàng không quốc tế tầm xa. Phân khúc khách có khả năng chi trả cao thường nhạy cảm với thời gian di chuyển hơn giá vé.
Năng lực tổ chức dịch vụ theo chuẩn toàn cầu. Một sự kiện MICE quốc tế không chỉ cần trung tâm hội nghị mà còn đòi hỏi hệ thống logistics, ngoại ngữ, công nghệ, an ninh, quản trị trải nghiệm và khả năng xử lý những yêu cầu phức tạp của khách quốc tế.
Bài toán quản trị liên ngành. Tổ hợp nghỉ dưỡng cao cấp gắn với MICE, y tế, vui chơi giải trí và bảo tồn môi trường liên quan nhiều lĩnh vực như quy hoạch, đầu tư, môi trường, giao thông, văn hóa và du lịch.
"Thách thức lớn nhất của Việt Nam hiện nay không phải là thiếu tài nguyên. Điều quan trọng hơn là làm thế nào để chuyển tài nguyên thành giá trị, chuyển cảnh quan thành trải nghiệm, chuyển điểm đến thành thương hiệu và chuyển tăng trưởng du lịch thành phát triển bền vững", ông nói.

Sân bay Phú Quốc đông nghẹt du khách dịp cuối năm 2025. Ảnh: Quỳnh Danh.
50 triệu khách chưa phải đích đến cuối cùng
Với mục tiêu đón 45-50 triệu khách quốc tế và doanh thu 80-90 tỷ USD vào năm 2030, TS Dương Đức Minh nhận định đây là một mục tiêu có ý nghĩa quan trọng.
Điều này thể hiện không chỉ bởi quy mô con số, mà còn đặt ngành du lịch Việt Nam trước một yêu cầu mang tính bước ngoặt: "Chúng ta phải chuyển từ tư duy tăng trưởng bằng số lượng sang tư duy tăng trưởng bằng giá trị".
Nếu chỉ nhìn du lịch ở góc độ thu hút ngày càng nhiều du khách, Việt Nam có thể dễ nghiêng về tư duy mở rộng quy mô. Kinh nghiệm từ nhiều điểm đến trên thế giới cho thấy số lượng khách chỉ là một phần trong câu chuyện tăng trưởng. Quan trọng hơn là mỗi du khách tạo ra bao nhiêu giá trị về kinh tế, xã hội, văn hóa và môi trường.

Ở góc độ quy mô thị trường, mục tiêu đón 45-50 triệu khách quốc tế vào năm 2030 là tham vọng nhưng có cơ sở nếu Việt Nam tiếp tục duy trì năng lực cạnh tranh trong khu vực.
Song, điều đáng quan tâm hơn không chỉ là lượng khách có thể tăng gấp đôi hay không, mà là tăng trưởng đó có đi cùng với sự gia tăng tương ứng về doanh thu, chất lượng trải nghiệm và tính bền vững hay không.
Nếu chỉ tăng lượng khách nhưng không thay đổi cấu trúc chi tiêu, thời gian lưu trú và chất lượng sản phẩm, mục tiêu doanh thu cao sẽ rất khó đạt được. Do đó, TS Dương Đức Minh đề xuất định hướng phát triển hiện nay cần tập trung vào nhóm khách có khả năng chi tiêu cao, lưu trú dài ngày và tạo ra giá trị lan tỏa lớn hơn.

Theo chuyên gia, để đạt mục tiêu doanh thu 80-90 tỷ USD vào năm 2030, Việt Nam cần thực hiện 3 sự chuyển dịch quan trọng.
▸ Thứ nhất, chuyển từ khai thác tài nguyên sang phát triển giá trị tài nguyên. Việt Nam có nhiều lợi thế tự nhiên và văn hóa, nhưng tài nguyên tự thân không tạo ra giá trị cao nếu thiếu khả năng tổ chức trải nghiệm.
Một bãi biển đẹp chỉ là điều kiện ban đầu, giá trị thực sự được tạo ra khi bãi biển đó được kết nối với nghỉ dưỡng, ẩm thực, văn hóa, chăm sóc sức khỏe, thể thao, nghệ thuật và những câu chuyện riêng của cộng đồng địa phương.
▸ Thứ hai, chuyển từ cung cấp dịch vụ sang kiến tạo trải nghiệm. Trong nền kinh tế hiện đại, dịch vụ có thể bị sao chép, nhưng trải nghiệm có chiều sâu thì khó thay thế.
Một khách sạn có thể được xây dựng ở nhiều nơi, nhưng cảm giác đứng trước một không gian thiên nhiên độc đáo, thưởng thức nền ẩm thực gắn với ký ức địa phương hay tham gia một trải nghiệm văn hóa chân thực là những giá trị không dễ nhân bản.
▸ Thứ ba, chuyển từ phát triển từng điểm đến riêng lẻ sang xây dựng năng lực cạnh tranh của toàn bộ hệ thống du lịch quốc gia.
Du lịch là một ngành có tính liên kết rộng, trong đó thành công không chỉ phụ thuộc vào doanh nghiệp du lịch mà còn liên quan đến giao thông, môi trường, văn hóa, quy hoạch, đào tạo nhân lực, công nghệ và quản trị điểm đến. Một điểm đến đẳng cấp cần sự phối hợp của nhiều chủ thể cùng hướng tới một giá trị chung.

Du khách quốc tế tại phố Tây Bùi Viện (TP.HCM). Ảnh: Quang Thông.
Ở góc độ sâu hơn, chuyên gia cho rằng các mục tiêu trong Nghị quyết 26 không nên được nhìn chỉ như một đích đến về mặt số học. Để đạt được những mục tiêu này, Việt Nam cần nâng cao khả năng tạo ra giá trị từ các nguồn lực du lịch, thay vì chỉ dựa vào lợi thế sẵn có.
"Thành công cuối cùng của du lịch Việt Nam trong kỷ nguyên mới không chỉ là đón được bao nhiêu triệu khách, mà là có thể tạo ra một nền du lịch trong đó mỗi du khách khi rời đi đều mang theo một giá trị đặc biệt: một ký ức sâu sắc, một trải nghiệm khác biệt và một lý do để quay trở lại.
Suy cho cùng, một quốc gia không trở thành cường quốc du lịch chỉ vì có nhiều người đến, mà bởi vì những người đã đến cảm nhận rằng họ không thể tìm thấy trải nghiệm ấy ở bất kỳ nơi nào khác", ông Minh nói.
