Giữ lợi nhuận FDI trong vòng quay đầu tư
Dự thảo sửa đổi Luật Đầu tư đề xuất hỗ trợ tối đa 2% chi phí tạo tài sản cố định cho doanh nghiệp FDI, hướng tới đưa lợi nhuận chưa chuyển về nước trở lại đầu tư tại Việt Nam. Ưu đãi này được đề xuất trong bối cảnh vốn thực hiện và vốn bổ sung của các dự án FDI có nhiều diễn biến tích cực trong các quý vừa qua.
Nguồn vốn lớn từ các dự án hiện hữu
Theo Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Tài chính), trong 7 tháng đầu năm 2026, vốn FDI thực hiện tại Việt Nam đạt 15,2 tỷ USD, tăng 11,8% và là mức cao nhất của cùng kỳ 5 năm gần đây. Cùng thời gian này, các dự án FDI đang hoạt động đăng ký bổ sung hơn 10,43 tỷ USD, chiếm 27,4% tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký.
Số liệu trên cho thấy, dòng vốn vào Việt Nam không chỉ đến từ các dự án mới mà những doanh nghiệp đã hoạt động cũng đang tiếp tục mở rộng đầu tư. Theo kết quả sơ bộ Tổng điều tra kinh tế năm 2026, đến cuối năm 2025, tổng nguồn vốn của doanh nghiệp FDI đạt khoảng 17,1 triệu tỷ đồng, tăng 83,1% so với năm 2020. Con số này bao gồm vốn chủ sở hữu và nợ phải trả, nhưng phần nào phản ánh khả năng huy động và bố trí nguồn lực khá lớn của khu vực FDI tại Việt Nam.
Để khai thác thêm nguồn lực này, tại dự thảo sửa đổi Luật Đầu tư, Bộ Tài chính đề xuất sửa đổi điểm b4 khoản 4 Điều 17. Theo đó, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài sử dụng lợi nhuận chưa chuyển về nước để mở rộng đầu tư có thể được hỗ trợ tối đa 2% chi phí tạo tài sản cố định. Theo Bộ Tài chính, ưu đãi sẽ khuyến khích nhà đầu tư tiếp tục đưa nguồn tiền đã hình thành tại Việt Nam vào hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Về phía cộng đồng doanh nghiệp FDI, ông Bruno Jaspaert, Chủ tịch EuroCham cho biết, Chỉ số Bối cảnh Kinh doanh của cộng đồng doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam trong quý II/2026 đạt 79,7 điểm, gần mức cao nhất trong 7 năm. Hơn một nửa doanh nghiệp tham gia khảo sát coi Việt Nam là một trong những thị trường chiến lược cốt lõi và 69% kỳ vọng điều kiện kinh doanh tiếp tục cải thiện trong quý III/2026. Theo ông Jaspaert, khi Chính phủ xác định doanh nghiệp FDI là đối tác lâu dài và tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, hội đồng quản trị các tập đoàn sẽ có thêm niềm tin để mở rộng hoạt động tại Việt Nam.
Theo Công ty Luật Apolat Legal, lợi nhuận sau khi doanh nghiệp hoàn thành nghĩa vụ thuế và bảo đảm thanh toán các khoản nợ đến hạn có thể được sử dụng để tăng vốn đầu tư. Doanh nghiệp cần có báo cáo tài chính đã được kiểm toán để chứng minh nguồn tiền, đồng thời thực hiện điều chỉnh giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, giấy chứng nhận đăng ký đầu tư và cơ cấu tổng vốn khi cần thiết.
Theo đó, lợi nhuận chưa phân phối chỉ chuyển thành vốn đầu tư dài hạn khi doanh nghiệp xác định rõ mục đích sử dụng và hoàn thành thủ tục ghi nhận tăng vốn cho dự án. Mức hỗ trợ 2% sẽ bổ sung lợi ích tài chính cho lựa chọn này, qua đó khuyến khích doanh nghiệp chuyển nguồn tiền đã tạo ra thành nhà xưởng, máy móc và dây chuyền tại Việt Nam.

Chuyển giao công nghệ tại các doanh nghiệp trong Khu Công nghệ cao TP. Hồ Chí Minh
Ưu đãi hướng vào công nghệ chiến lược
Theo dự thảo sửa đổi Luật Đầu tư, mức hỗ trợ tối đa 2% chi phí tạo tài sản cố định không áp dụng cho toàn bộ khu vực FDI mà tập trung vào các ngành công nghệ chiến lược. Danh mục bao gồm điện tử, bán dẫn và thiết bị số; trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, điện toán đám mây, công nghệ chuỗi khối; công nghệ sinh học, năng lượng, vật liệu mới và công nghiệp xanh…
Tuy nhiên, theo Bộ Tài chính, để nhận được ưu đãi này, doanh nghiệp cần đáp ứng điều kiện phần mở rộng sử dụng lợi nhuận chưa chuyển về nước phải làm tăng tổng vốn đầu tư của dự án ít nhất 20%. Các hoạt động tổ chức lại doanh nghiệp, góp vốn, mua cổ phần, mua doanh nghiệp hoặc dự án đang hoạt động không thuộc diện hỗ trợ. Theo cơ quan soạn thảo, quy định này nhằm hướng nguồn lực vào hoạt động tạo thêm năng lực sản xuất, thay vì những giao dịch chỉ làm thay đổi cơ cấu sở hữu.
Về phía doanh nghiệp, ông Khuất Quang Hưng, Phó Tổng Giám đốc Nestlé Việt Nam cho rằng, chuyển từ ưu đãi đầu vào sang hỗ trợ theo kết quả sẽ tạo ra môi trường đầu tư cạnh tranh và có chọn lọc hơn. Theo ông Hưng, cơ chế mới có thể tạo thêm động lực để doanh nghiệp FDI đầu tư thực chất, dài hạn, mở rộng sản xuất gắn với công nghệ cao, sử dụng hiệu quả tài nguyên và giảm phát thải.
Trong khi đó, VCCI lưu ý cơ chế hỗ trợ cần được xác định trước cho toàn bộ hoặc một số năm của dự án và gắn với việc doanh nghiệp hoàn thành nghĩa vụ cam kết. Đối với mức hỗ trợ 2%, quy định hướng dẫn cần làm rõ tài sản được hỗ trợ, điều kiện chứng minh nguồn lợi nhuận và thời điểm chi trả để nhà đầu tư có thể đưa khoản tiền này vào phương án mở rộng.
Nếu điều kiện thụ hưởng và thời điểm chi trả được quy định rõ như VCCI kiến nghị, mức hỗ trợ 2% có thể trở thành động lực bổ sung để doanh nghiệp lựa chọn giữ lợi nhuận ở lại. Nguồn tiền này khi đó sẽ tiếp tục quay vòng qua các dự án hiện hữu, thay vì được chuyển ra nước ngoài sau mỗi chu kỳ kinh doanh.
Đồng quan điểm, ông Richard Barnsley, Giám đốc Khối Ngân hàng Toàn cầu HSBC Việt Nam cho rằng, các ưu đãi tài chính truyền thống đang giảm dần hiệu quả, trong khi nhà đầu tư chiến lược ngày càng quan tâm đến chất lượng thể chế và khả năng dự báo của chính sách. Vì vậy, mức hỗ trợ 2% có thể tạo thêm lợi ích tài chính khi các tập đoàn đa quốc gia cân nhắc giữa chuyển lợi nhuận về nước và tiếp tục mở rộng hoạt động tại Việt Nam, nhất là khi điều kiện thụ hưởng được quy định cụ thể và thủ tục tiếp cận có hướng dẫn chi tiết để bổ sung vào phương án đầu tư.
Nguồn TBNH: https://thoibaonganhang.vn/giu-loi-nhuan-fdi-trong-vong-quay-dau-tu-186933.html


