Điều kiện cấp Giấy phép kinh doanh cho tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 342/2026/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Thương mại và Luật Quản lý ngoại thương về hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa của nhà đầu tư nước ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
Nghị định quy định cụ thể về quyền xuất khẩu, nhập khẩu, phân phối hàng hóa cũng như điều kiện, tiêu chí và thẩm quyền cấp Giấy phép kinh doanh đối với tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.

Điều kiện cấp giấy phép kinh doanh cho tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. (Ảnh: VGP)
Quy định về quyền mua bán hàng hóa
Theo Nghị định, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã có quyền xuất khẩu được xuất khẩu ra nước ngoài và khu vực hải quan riêng các loại hàng hóa mua tại Việt Nam, hàng hóa do tổ chức đặt gia công tại Việt Nam và hàng hóa nhập khẩu hợp pháp vào Việt Nam.
Việc xuất khẩu phải bảo đảm hàng hóa không thuộc danh mục cấm xuất khẩu, danh mục tạm ngừng xuất khẩu hoặc danh mục hàng hóa mà tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài không được thực hiện quyền xuất khẩu theo các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Đối với hàng hóa thuộc danh mục xuất khẩu theo giấy phép hoặc theo điều kiện, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phải có giấy phép hoặc đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật.
Tương tự, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã có quyền nhập khẩu được nhập khẩu hàng hóa từ nước ngoài và khu vực hải quan riêng vào Việt Nam.
Hàng hóa nhập khẩu không được thuộc danh mục hàng hóa cấm nhập khẩu, tạm ngừng nhập khẩu hoặc danh mục hàng hóa mà tổ chức không được thực hiện quyền nhập khẩu theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Trường hợp hàng hóa thuộc diện nhập khẩu theo giấy phép hoặc theo điều kiện, tổ chức phải có giấy phép hoặc đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định.
Đối với quyền phân phối, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã có quyền phân phối bán buôn hoặc bán lẻ được bán buôn, bán lẻ hàng hóa sản xuất, gia công tại Việt Nam và hàng hóa nhập khẩu hợp pháp vào Việt Nam.
Đối với các ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài chỉ được thực hiện hoạt động kinh doanh khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành.
Những hoạt động phải có Giấy phép kinh doanh
Nghị định quy định Giấy phép kinh doanh được cấp cho tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài để thực hiện một số hoạt động nhất định.
Cụ thể, gồm: thực hiện quyền phân phối bán lẻ hàng hóa; thực hiện quyền nhập khẩu, quyền phân phối bán buôn đối với một số loại hàng hóa; thực hiện quyền phân phối bán lẻ đối với hàng hóa thuộc trường hợp chưa được cam kết mở cửa thị trường.
Ngoài hoạt động mua bán hàng hóa, Giấy phép kinh doanh còn được cấp để tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài cung cấp dịch vụ logistics, trừ các phân ngành dịch vụ logistics mà Việt Nam đã cam kết mở cửa thị trường trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Các hoạt động khác thuộc diện phải có Giấy phép kinh doanh gồm cho thuê hàng hóa, không bao gồm cho thuê tài chính và cho thuê trang thiết bị xây dựng có người vận hành; cung cấp dịch vụ xúc tiến thương mại, không bao gồm dịch vụ quảng cáo; cung cấp dịch vụ trung gian thương mại.
Đáng chú ý, Nghị định cũng quy định việc quản lý, vận hành nền tảng thương mại điện tử trung gian, mạng xã hội hoạt động thương mại điện tử, nền tảng thương mại điện tử tích hợp và cung cấp dịch vụ tổ chức đấu thầu hàng hóa, dịch vụ thuộc trường hợp phải được cấp Giấy phép kinh doanh.
Điều kiện cấp Giấy phép kinh doanh
Đối với nhà đầu tư nước ngoài thuộc nước, vùng lãnh thổ là thành viên của điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và có cam kết mở cửa thị trường đối với hoạt động mua bán hàng hóa, các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa, việc cấp Giấy phép kinh doanh được xem xét trên cơ sở các điều kiện về tiếp cận thị trường.
Theo đó, nhà đầu tư phải đáp ứng các điều kiện về tiếp cận thị trường được quy định tại điều ước quốc tế mà Việt Nam và nước, vùng lãnh thổ của nhà đầu tư là thành viên, đồng thời phải đáp ứng các điều kiện này trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh tại Việt Nam.
Một điều kiện đáng chú ý khác là tổ chức kinh tế đã được thành lập tại Việt Nam từ 1 năm trở lên tính đến ngày nộp hồ sơ không được có nợ thuế quá hạn.
Đối với nhà đầu tư nước ngoài không thuộc nước, vùng lãnh thổ tham gia điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, ngoài điều kiện không có nợ thuế quá hạn, việc cấp phép còn phải đáp ứng các tiêu chí về sự phù hợp với pháp luật chuyên ngành và mức độ cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước trong cùng lĩnh vực hoạt động trong thời gian 1 năm tính đến ngày nộp hồ sơ.
Quy định đối với lĩnh vực chưa cam kết mở cửa thị trường
Trường hợp dịch vụ kinh doanh chưa được cam kết mở cửa thị trường trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, điều kiện cấp phép được áp dụng tương ứng với từng nhóm nhà đầu tư.
Đối với nhà đầu tư thuộc nước, vùng lãnh thổ có điều ước quốc tế với Việt Nam, nhà đầu tư phải đáp ứng các điều kiện về tiếp cận thị trường, không có nợ thuế quá hạn và các tiêu chí theo quy định.
Đối với nhà đầu tư không thuộc nhóm này, phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện và tiêu chí áp dụng đối với nhà đầu tư nước ngoài không thuộc nước, vùng lãnh thổ tham gia điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Nghị định cũng quy định riêng đối với một số nhóm hàng hóa chưa được cam kết mở cửa thị trường, gồm dầu bôi trơn, mỡ bôi trơn có nguồn gốc từ dầu mỏ; gạo; đường; vật phẩm đã ghi hình; sách, báo và tạp chí.
Đối với dầu bôi trơn, mỡ bôi trơn có nguồn gốc từ dầu mỏ, cơ quan cấp Giấy phép xem xét cấp quyền nhập khẩu, quyền phân phối bán buôn cho tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài nếu tổ chức này đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho dự án sản xuất các sản phẩm trên tại Việt Nam.
Trường hợp khác là tổ chức đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho dự án sản xuất hoặc được phép phân phối tại Việt Nam máy móc, thiết bị, hàng hóa có sử dụng dầu bôi trơn, mỡ bôi trơn có nguồn gốc từ dầu mỏ.
Đối với gạo, đường, vật phẩm đã ghi hình, sách, báo và tạp chí, cơ quan cấp Giấy phép xem xét cấp quyền phân phối bán lẻ cho tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã được cấp Giấy phép lập cơ sở bán lẻ dưới hình thức cửa hàng tiện lợi, siêu thị mini hoặc siêu thị để bán lẻ các hàng hóa này tại cơ sở bán lẻ.
Căn cứ xem xét cấp Giấy phép
Đối với những trường hợp chưa được cam kết mở cửa thị trường hoặc nhà đầu tư không thuộc nhóm nước, vùng lãnh thổ tham gia điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, cơ quan cấp Giấy phép không chỉ xem xét các điều kiện của nhà đầu tư mà còn căn cứ vào các yếu tố liên quan đến chính sách phát triển và an ninh quốc gia.
Cụ thể, đối với dịch vụ và hàng hóa chưa được cam kết mở cửa thị trường, cơ quan cấp Giấy phép xem xét sự phù hợp với chiến lược phát triển ngành, lĩnh vực của địa phương, vùng và quốc gia, cũng như tiến trình đàm phán và mở cửa thị trường của Việt Nam.
Đối với nhà đầu tư không thuộc nước, vùng lãnh thổ tham gia điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, cơ quan cấp phép còn xem xét quan hệ ngoại giao, vấn đề an ninh quốc gia, trật tự và an toàn xã hội.
UBND cấp tỉnh là cơ quan cấp Giấy phép kinh doanh
Theo Nghị định 342/2026/NĐ-CP, UBND cấp tỉnh nơi tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đặt trụ sở chính là cơ quan thực hiện việc cấp, cấp lại, điều chỉnh và thu hồi Giấy phép kinh doanh.
Trong quá trình xem xét cấp phép, cơ quan có thẩm quyền sẽ lấy ý kiến của Bộ Công an và Bộ Quốc phòng về các vấn đề liên quan đến an ninh quốc gia đối với một số trường hợp.
Việc lấy ý kiến được thực hiện đối với nhà đầu tư nước ngoài không thuộc nước, vùng lãnh thổ tham gia điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; trường hợp dịch vụ hoặc hàng hóa chưa được cam kết mở cửa thị trường thuộc nhóm nhà đầu tư này; và trường hợp nhà đầu tư nước ngoài chi phối tổ chức kinh tế là chủ quản nền tảng thương mại điện tử trung gian, mạng xã hội hoạt động thương mại điện tử hoặc nền tảng thương mại điện tử tích hợp được xác định là nền tảng số lớn theo quy định của pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và thương mại điện tử.
Những quy định mới nhằm xác định rõ hơn điều kiện tiếp cận thị trường, phạm vi hoạt động và cơ chế cấp phép đối với tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, đồng thời tăng cường việc xem xét các yếu tố về cạnh tranh, phát triển ngành, quan hệ đối ngoại và an ninh quốc gia trong những lĩnh vực chưa được cam kết mở cửa thị trường.
