Diệu kỳ thay, khát vọng thái hòa

Là chuyện về Trung đoàn 56 Quân đội Sài Gòn dưới sự chỉ huy của Trung tá Việt Nam Cộng hòa Phạm Văn Đính đã đầu hàng bộ đội ta vào ngày 2/4/1972; là sức sống mãnh liệt trên mảnh đất chết từng là vành đai lửa khốc liệt; là cựu binh Mỹ sau 1975 quay lại tận hiến cho công cuộc khắc phục bom mìn chiến tranh; là chuyện về nữ dũng sĩ bắn tỉa nổi tiếng, bên hàng rào điện tử McNamara, được chính con trai cựu Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ Robert McNamara tìm đến tận nhà để gặp… Đó là khát vọng thái hòa giữa Tháng Tư lịch sử, trên mảnh đất Quảng Trị một thời đỏ lửa.

Bài 1: Quyết định sinh tử

Trong cuộc trường kỳ kháng chiến giành lấy độc lập, thống nhất nước nhà có không ít những quyết định sinh tử, những bước ngoặt bất ngờ trong trận mạc. Và câu chuyện sắp kể ra đây là một quyết định chiến trường hy hữu, góp phần mở ra một trang mới lấp lánh ánh nhân văn.

“Chảo lửa” giữa Mùa hè đỏ lửa

Quảng Trị cuối tháng 3 đầu tháng 4 năm 1972 là một “chảo lửa” đúng nghĩa, bởi chiến sự diễn ra khốc liệt bậc nhất ở Việt Nam, khi mà những đơn vị bộ đội chính quy với trang bị vũ khí hiện đại và công phá mục tiêu chính xác đã khiến cho quân đội Sài Gòn đồn trú ở đây rất hoang mang, lo sợ. Chiến sự căng thẳng làm không khí nóng lên trên mặt trận ngoại giao trong hội đàm Paris.

Chủ tịch Cuba Fidel Castro cùng Thủ tướng Phạm Văn Đồng thăm cao điểm 241 ngày 15/9/1973. Ảnh: Sĩ Sô

Chủ tịch Cuba Fidel Castro cùng Thủ tướng Phạm Văn Đồng thăm cao điểm 241 ngày 15/9/1973. Ảnh: Sĩ Sô

Những tướng tá quân đội Sài Gòn ở Vùng 1 chiến thuật chỉ còn hy vọng vào những cứ điểm có lợi thế về địa hình, binh lính đông, trang bị vũ khí mạnh và chỉ huy giỏi, dạn dày kinh nghiệm như căn cứ Carroll (Cao điểm 241 mang tên một cố vấn Mỹ) khu vực Tân Lâm - Cam Lộ. Nơi đây Trung đoàn 56 bộ binh thuộc Sư đoàn 3 bộ binh, Quân khu 1 dưới quyền chỉ huy của “người hùng” Quân lực Việt Nam Cộng hòa là Trung tá Phạm Văn Đính, một người xứ Huế.

Sau năm 1975, chúng tôi nhiều lần đến Cao điểm 241 càng thấy rõ đây đúng là một căn cứ hỏa lực vào loại mạnh nhất vì được xây dựng quy củ trên đồi cao, có thể quan sát và dùng hỏa lực mạnh khống chế bốn hướng, lại thêm có các loại pháo hạng nặng như 105 ly, 155 ly và đặc biệt là pháo đội tự hành 175 ly được mệnh danh là “Vua chiến trường” có bán kính bắn xa đến 40 km và quân số nếu đầy đủ có thể lên tới gần 1.000 tay súng được trang bị bài bản…

Ông Trương Văn Nghệ, cựu binh Trung đoàn 56 kể lại những giây phút cam go trên Căn cứ 241. Ảnh: Phạm Xuân Dũng

Ông Trương Văn Nghệ, cựu binh Trung đoàn 56 kể lại những giây phút cam go trên Căn cứ 241. Ảnh: Phạm Xuân Dũng

Nhưng dù vậy, trước sự tấn công đồng loạt và như vũ bão của bộ đội ta, đặc biệt là sự tấn công của Trung đoàn Pháo binh Bông Lau, một chỉ huy giỏi, gan lỳ, dạn dày trận mạc như Trung tá Đính vẫn thấy khó lòng cầm cự. Ông đã xin cấp trên chi viện nhưng câu trả lời từ cấp trên là không thể. Chỉ còn cách tử thủ mà thôi.

… Cách đây ít ngày, chúng tôi gặp ông Trương Văn Nghệ (sinh năm 1952) ở phường Đông Lễ, thành phố Đông Hà tỉnh Quảng Trị cũ vốn là lính pháo binh Trung đoàn 56 đồn trú ở Carroll ngày ấy. Ông Nghệ kể: “Lúc đó, nhiều căn cứ đã thất thủ, rơi vào tay bộ đội. Ôi chao, pháo bộ đội họ bắn chính xác lắm, bắn đâu trúng đó. Bọn tui thất kinh, không ngóc đầu lên nổi. Đừng nói đến chuyện phản pháo. Phản gì được, có anh liều mạng vọt lên là lập tức dính đạn liền. Bọn tui lính thôi nhưng cũng biết tình hình là bế tắc”.

Quyết định sinh tử

Di tích lịch sử Cao điểm 241 (Carroll) thuộc xã Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị. Ảnh: Phạm Xuân Dũng

Di tích lịch sử Cao điểm 241 (Carroll) thuộc xã Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị. Ảnh: Phạm Xuân Dũng

Đại tá Cao Sơn, nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn Pháo binh 38, còn gọi là Trung đoàn Bông Lau (Binh chủng Pháo binh, Bộ Quốc phòng) trong hồi ký của mình nhớ lại rằng vào trước đêm 1/4/1972 qua sóng điện đàm, cấp phó của ông đã nghe giọng Trung tá Đính muốn gặp chỉ huy Trung đoàn Bông Lau. Tiếp đó, ông Cao Sơn kể: “Sáng ngày 2 tháng 4, ngày N+3, khoảng 8 giờ, anh Thông điện về sôi nổi: “Trung đoàn trưởng, tên đó tự nhận là Phạm Văn Đính, trung tá chỉ huy Trung đoàn 56 đóng ở căn cứ pháo binh 241 xin được gặp ông chỉ huy đoàn Bông Lau đề nghị ngừng bắn để đưa đơn vị về với cách mạng”. Lập tức tôi điện trao đổi với anh Hoàng Đan, Sư đoàn trưởng Sư đoàn 304, đang phối hợp chiến đấu về sự kiện trên. Anh Hoàng Đan nói: “Anh trực tiếp khuyến khích họ ra hàng, chỉ huy sẽ được ưu đãi sử dụng”. Chúng tôi họp ngay thường vụ Đảng ủy Trung đoàn gồm có anh Trương Linh Huyên - Chính ủy Trung đoàn, anh Chu Sỹ Tính - phó Chính ủy và tôi. Ngoài ra có anh Đỗ Son, Chủ nhiệm chính trị và nhà báo quân đội Nguyễn Thắng đi theo trung đoàn từ đầu chiến dịch tham dự”.

Khi điện đàm, Trung đoàn trưởng Cao Sơn nói căn cứ 241 chỉ có 30 phút chuẩn bị để rồi ra hàng, Trung tá Đính đề nghị cho gia hạn thêm khoảng 30 phút nữa để có thời gian họp bàn các sĩ quan dưới quyền và được đồng ý. Ông Trương Văn Nghệ nhớ lại: “Lúc ông Đính triệu tập họp, tình hình nguy lắm rồi. Ông Đính nói căn cứ đã không còn hy vọng, có chống cự thì trước sau cũng chết. Không chịu đầu hàng e là chết hết, mà chết thê thảm”. Vậy là ông Đính quyết định treo cờ trắng. Đó là chiều ngày 2/4/1972.

Tình cờ ngày Chủ nhật 2/4/1972 ấy theo Thiên chúa giáo là ngày lễ Phục sinh. Dù có theo tôn giáo nào hay không thì ai cũng mừng cho một ngày lịch sử và có hậu vô cùng.

Phục sinh

Trung tá Phạm Văn Đính (bên phải) bắt tay đại diện QĐNDVN ngày ra hàng 2/4/1972. Ảnh: TL

Trung tá Phạm Văn Đính (bên phải) bắt tay đại diện QĐNDVN ngày ra hàng 2/4/1972. Ảnh: TL

Quyết định của Trung tá Đính đã cứu được không chỉ bản thân ông mà còn hàng trăm binh lính dưới quyền, cũng như sinh mạng của nhiều bộ đội nếu chiến sự tiếp diễn. Ông Trương Văn Nghệ nói: “Lúc ấy tử thủ chắc là chết sạch và bên tấn công cũng khó tránh tổn thất. Vì Mỹ thế nào cũng ném bom rải thảm hủy diệt để xóa mọi thứ. Chưa nói đến chuyện đánh nhau, chỉ cần bộ đội bao vây căn cứ 5 ngày, hết nước uống mà máy bay thì không tiếp tế được vì pháo cao xạ thì chúng tôi cũng đủ chết khát, không hàng cũng phải hàng. Ông Đính làm vậy là rất đúng, rất sáng suốt, làm được như vậy là đã cứu lấy anh em chúng tôi”.

Cuộc trở về bình an của Trung đoàn 56 được lãnh đạo Quân đội Nhân dân Việt Nam ghi nhận là hành động phản chiến. Chỉ huy Trung đoàn 56 là Trung tá trung đoàn trưởng Phạm Văn Đính và Trung tá trung đoàn phó Vĩnh Phong đều được giữ nguyên quân hàm khi chuyển sang làm sĩ quan bộ đội ta, còn hầu hết binh lính cũng trở thành chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam (QĐNDVN).

Một kết thúc có hậu khiến cho hầu hết sĩ quan và binh lính Trung đoàn 56 bộ binh cứ ngỡ là mình đang sống trong mơ và gia đình họ cũng vô cùng vui mừng khi người thân được trở về nguyên vẹn và hơn thế còn được đứng vào hàng ngũ của những chiến sĩ QĐNDVN.

Trung tá Phạm Văn Đính và Trung tá Vĩnh Phong về sau đều được thăng cấp lên Thượng tá QĐNDVN, rồi chuyển ngành sang làm cơ quan dân chính và nghỉ hưu, sống yên vui cùng với gia đình.

PHẠM XUÂN DŨNG

Nguồn Tiền Phong: https://tienphong.vn/dieu-ky-thay-khat-vong-thai-hoa-post1832304.tpo