Điều trị cá thể hóa giúp người bệnh mạn tính cải thiện chất lượng sống
Hội nghị khoa học nội khoa toàn quốc lần thứ 14 được tổ chức trong bối cảnh ngành Y tế đang đứng trước nhiều cơ hội và thách thức mới, với sự gia tăng của các bệnh lý mạn tính, quá trình già hóa dân số và yêu cầu ngày càng tăng trong nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cho nhân dân.
Gánh nặng đột quỵ tái phát
PGS.TS Nguyễn Thị Bạch Tuyết, Đại học Phenikaa, Phó Chủ tịch Hội Nội khoa Việt Nam cho biết, hội nghị là diễn đàn cập nhật kiến thức chuyên sâu và thúc đẩy hợp tác chuyên môn trên toàn quốc. Trong đó, chuyển đổi số được xác định là giải pháp then chốt để quản lý bệnh mạn tính, đặc biệt là theo dõi sức khỏe dài hạn cho người cao tuổi, giúp tối ưu hóa hiệu quả điều trị và giảm tải hệ thống y tế.
Theo các chuyên gia y tế, xu hướng phát triển của nội khoa hiện nay là cá thể hóa điều trị, tăng cường tiếp cận đa chuyên khoa và ứng dụng công nghệ trong thực hành lâm sàng. Đây được xem là chìa khóa nhằm nâng cao hiệu quả điều trị và cải thiện chất lượng sống cho người bệnh trong bối cảnh gánh nặng bệnh tật ngày càng gia tăng.

Một bệnh nhân tại Hà Nội bị đột quỵ được cấp cứu kịp thời. Ảnh: Thanh Bình
Chia sẻ về ca điển hình nhồi máu não tái phát, Thạc sĩ, bác sĩ nội trú Vũ Thị Thu Hiền, Khoa Nội tổng hợp, Bệnh viện Đa khoa Hồng Ngọc Phúc Trường Minh cho biết, Khoa đã điều trị ca tái phát đột quỵ hy hữu ở nam bệnh nhân 73 tuổi (Hà Nội) có tiền sử tăng huyết áp, rối loạn chuyển hóa lipid máu điều trị thường xuyên, xơ vữa mạch máu. Dù các triệu chứng đột quỵ thoáng qua ban đầu đã tự hết và được bác sĩ can thiệp kịp thời, bệnh nhân vẫn bị đột quỵ lần hai do chơi golf liên tục 3 tiếng dưới nắng nóng, gây áp lực lớn lên hệ tim mạch vốn đã suy yếu.
Đặt vấn đề về việc điều trị đúng phác đồ, nhưng bệnh vẫn tái phát, bác sĩ nội trú Vũ Thị Thu Hiền cho rằng, với bệnh nhân hẹp, tắc mạch lớn, huyết áp quá thấp (
Theo bác sĩ nội trú Vũ Thị Thu Hiền, tình trạng già hóa dân số và đa bệnh lý mạn tính đang đẩy tỷ lệ đột quỵ tái phát lên mức báo động. Cụ thể, đột quỵ tái phát chiếm gần 25% trong số khoảng 800.000 ca đột quỵ xảy ra hằng năm tại Mỹ. Các biến cố tái phát dẫn đến thời gian nằm viện kéo dài, kết cục chức năng kém hơn và tăng tỉ lệ tử vong. Nguy cơ tái phát tích lũy tăng dần theo thời gian (từ 5,4% sau 1 năm, lên đến hơn 50% sau 10 năm). Nguy cơ tái phát phụ thuộc đáng kể vào nguyên nhân gây đột quỵ ban đầu. Xơ vữa động mạch lớn và thuyên tắc do tim có tỉ lệ tái phát cao nhất.
Tăng huyết áp là yếu tố nguy cơ quan trọng và phổ biến nhất, xuất hiện ở khoảng 88% bệnh nhân tái phát. Đái tháo đường làm tăng đáng kể nguy cơ, đặc biệt là nhóm thuyên tắc do tim. Ngoài ra, còn có các yếu tố cộng hưởng như tuổi cao (nguy cơ tăng 2% mỗi năm tuổi); rung nhĩ cơn chưa được phát hiện là yếu tố nguy cơ chính gây thuyên tắc mạch.
Thực tế lâm sàng cho thấy một nghịch lý, phần lớn bệnh nhân tái phát có chỉ số huyết áp chưa kiểm soát tốt; 23% bệnh nhân không dùng thuốc dự phòng khi tái phát. Bác sĩ tập trung kê đơn, nhưng thiếu thời gian giải thích mục tiêu điều trị, khiến bệnh nhân mất động lực duy trì.
Số hóa y tế, đưa bác sĩ về nhà
Để lấp khoảng trống trong tuân thủ điều trị bệnh đột quỵ não, bác sĩ Hiền đưa ra giải pháp cá nhân hóa và chuẩn hóa quản lý. Trong đó, việc áp dụng mô hình chăm sóc phối hợp đa chuyên khoa, giúp cải thiện sự tuân thủ của bệnh nhân và giảm tỉ lệ tái phát hiệu quả hơn. Bên cạnh đó, việc lựa chọn liệu pháp điều trị cả về thuốc và thay đổi lối sống cần dựa trên đặc điểm riêng biệt của từng bệnh nhân, độ an toàn, hiệu quả và cả sở thích, điều kiện kinh tế của bệnh nhân để tăng cường khả năng gắn bó với điều trị lâu dài. Công khai mục tiêu điều trị là chiến lược hiệu quả để tăng cường tuân thủ điều trị của người bệnh.

PGS. TS Hoàng Văn Sỹ, Trưởng khoa Nội tim mạch, Bệnh viện Chợ Rẫy, giảng viên Trường Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh chia sẻ tại hội nghị. Ảnh: Thanh Binh
Việt Nam đang bước vào giai đoạn già hóa dân số với tốc độ nhanh chóng, kéo theo những áp lực lớn cho hệ thống y tế. Theo PGS. TS Hoàng Văn Sỹ, Trưởng khoa Nội tim mạch, Bệnh viện Chợ Rẫy, giảng viên Trường Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh, đặc thù của bệnh nhân cao tuổi hiện nay không chỉ dừng lại ở một căn bệnh đơn lẻ.
Thực tế lâm sàng cho thấy, một bệnh nhân trên 60 tuổi thường cùng lúc đối mặt với "vòng vây" từ 3 đến 7 loại bệnh lý khác nhau, như tăng huyết áp, mạch vành, đái tháo đường, rối loạn lipid máu và bệnh thận mạn tính. Đây là nhóm đối tượng cực kỳ dễ bị tổn thương trước các biến cố cấp tính. Việc điều trị trở thành một bài toán khó khi bác sĩ phải cân bằng giữa các phác đồ và kiểm soát chặt chẽ sự tương tác thuốc phức tạp để tránh gây tác dụng ngược.
Trước thực trạng trên, PGS.TS Hoàng Văn Sỹ nhấn mạnh sự cần thiết phải thay đổi tư duy, chuyển từ mô hình chăm sóc truyền thống sang hệ sinh thái y tế tích hợp đa chuyên khoa. Hiện nay, y học vẫn tồn tại sự rời rạc, khi bác sĩ chuyên khoa nào thường chỉ tập trung vào bộ phận đó. Tuy nhiên, cơ thể bệnh nhân là một thể thống nhất. Việc xóa bỏ rào cản giữa các chuyên khoa (tim mạch, hô hấp, nội tiết, thận...) là yêu cầu cấp thiết để nhìn nhận toàn diện sức khỏe người bệnh, từ đó đưa ra phác đồ điều trị tối ưu và an toàn nhất.
Thực tế cho thấy, bệnh nhân cao tuổi mắc bệnh tim mạch kèm đa bệnh lý là nhóm có nguy cơ cao nhất về biến chứng, tái nhập viện và tử vong, đòi hỏi mô hình chăm sóc liên tục, toàn diện, đa chuyên khoa và cá thể hóa. Mô hình chăm sóc truyền thống còn nhiều hạn chế, đặc biệt trong quản lý đa thuốc, tương tác bệnh - bệnh, thiếu theo dõi sau điều trị và thiếu sự phối hợp đa chuyên khoa.
Nhấn mạnh đến vai trò của chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo (AI) trong việc xóa nhòa khoảng cách y tế, PGS.TS Hoàng Văn Sỹ cho hay, y học số cho phép kết nối dữ liệu từ bệnh viện về đến nhà và cộng đồng. Thay vì chỉ can thiệp khi bệnh nhân có triệu chứng nặng nhập viện, các thiết bị thông minh, giúp bác sĩ giám sát sức khỏe 24/7, phát hiện sớm những thay đổi nhỏ nhất để tư vấn kịp thời.
“Y học số mở ra cơ hội đột phá nhờ khả năng giám sát từ xa, phát hiện sớm biến cố, cảnh báo tương tác thuốc và hỗ trợ ra quyết định lâm sàng dựa trên dữ liệu thời gian thực và trí tuệ nhân tạo. Telehealth, thiết bị đeo và AI không chỉ cải thiện hiệu quả điều trị, mà còn nâng cao chất lượng sống, tăng khả năng tự chăm sóc của người bệnh, đồng thời giảm gánh nặng hệ thống y tế. Chuyển đổi sang mô hình chăm sóc số hóa, lấy người bệnh làm trung tâm là xu hướng tất yếu, góp phần xây dựng nền y học dự phòng - cá thể hóa - chính xác, hướng tới mục tiêu chăm sóc bền vững cho dân số già hóa”, PGS.TS Hoàng Văn Sỹ nhấn mạnh.











