Định hình Nhà nước pháp quyền trong kỷ nguyên mới
Đại hội XIV của Đảng xác định hoàn thiện Nhà nước pháp quyền là một trong những định hướng then chốt để tạo động lực phát triển cho kỷ nguyên mới.

LTS: Triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, vấn đề tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, mang tính đột phá trong kỷ nguyên phát triển mới. Tuy nhiên, làm thế nào để thực hiện những định hướng, nhiệm vụ mà đại hội XIV của Đảng đã đề ra là một bài toán lớn. Loạt bài nhằm làm rõ những chuyển động tư duy trong xây dựng thể chế, nhận diện điểm nghẽn và gợi mở giải pháp để đưa pháp luật thực sự đi vào cuộc sống, góp phần hoàn thiện công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã xác định một trong những định hướng then chốt để đưa đất nước phát triển trong giai đoạn 2026-2030 chính là tiếp tục đẩy mạnh xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân dưới sự lãnh đạo của Ðảng.
Điều này một lần nữa được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh khi phát biểu nhậm chức trước Quốc hội vào sáng 7-4.
Phân tích bối cảnh thế giới và trong nước, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước khẳng định mục tiêu ưu tiên hàng đầu của ông trên cương vị người đứng đầu Đảng và Nhà nước là giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển.
Theo đó, ông sẽ cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tập trung xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, xây dựng nền kinh tế tự chủ, tự lực, tự cường; nền quốc phòng - an ninh toàn dân, toàn diện và hiện đại; hệ thống chính trị tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả; xã hội phát triển, đoàn kết, văn hóa và nhân văn…
Đặc biệt, xây dựng kỷ luật trách nhiệm, kỷ luật thực thi, nói đi đôi với làm, làm đến cùng, làm vì Nhân dân, kết quả công việc phải hiệu quả, thực chất trong toàn hệ thống chính trị.

Tổng Bí thư Tô Lâm thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV phát biểu trước đại hội. Ảnh: daihoidangtoanquoc.vn
Kỷ nguyên mới, tư duy lập pháp mới
Để hiện thực hóa định hướng chiến lược trên, chương trình hành động của Ban Chấp hành (BCH) Trung ương thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đã vạch ra những nội dung cụ thể, bắt đầu từ việc thực hiện Nghị quyết 66 về đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới và tiếp tục triển khai Nghị quyết 27 về xây dựng Nhà nước pháp quyền. Song song đó, phát triển, vận hành hiệu quả cổng pháp luật quốc gia trên môi trường số để người dân và doanh nghiệp tiếp cận pháp luật cũng như giải quyết các kiến nghị về văn bản quy phạm pháp luật một cách thuận tiện…
Trao đổi với báo Pháp Luật TP.HCM, ThS Nguyễn Đức Hiếu, ĐH Quốc tế, ĐH Quốc gia TP.HCM, nhận định trong bối cảnh chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng dựa nhiều hơn vào khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, pháp luật không chỉ đóng vai trò “quản lý” mà phải trở thành thiết chế kiến tạo phát triển ở nước ta.
Chính Nghị quyết 66 đã nhấn mạnh yêu cầu “Đổi mới tư duy, định hướng xây dựng pháp luật theo hướng vừa bảo đảm yêu cầu quản lý nhà nước, vừa khuyến khích sáng tạo, giải phóng toàn bộ sức sản xuất, khơi thông mọi nguồn lực phát triển”. Đây là một chuyển dịch tư duy quan trọng: Từ coi pháp luật chủ yếu là “công cụ quản lý” sang “nền tảng thể chế phát triển quốc gia” trong kỷ nguyên mới.

Thủ tướng Lê Minh Hưng nhấn mạnh thể chế vẫn là yếu tố then chốt, năm 2026 phải xử lý dứt điểm một loạt vấn đề về thể chế, khi phát biểu tại buổi thảo luận tổ của Quốc hội, sáng 10-4. Ảnh: An Đăng/TTXVN
Nghị quyết 66 đã thẳng thắn chỉ ra những hạn chế từ thực tiễn như chất lượng pháp luật chưa theo kịp yêu cầu thực tiễn; còn có những quy định chồng chéo, mâu thuẫn, chưa rõ ràng, cản trở việc thực thi, không thuận lợi cho việc thúc đẩy đổi mới sáng tạo, thu hút và khơi thông nguồn lực đầu tư. Việc nhận diện rõ các “điểm nghẽn thể chế” này cho thấy yêu cầu cấp thiết phải cải cách đồng bộ từ khâu hoạch định chính sách đến tổ chức thực hiện.
Đặc biệt, trong điều kiện hội nhập quốc tế sâu rộng và tham gia nhiều hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, pháp luật Việt Nam phải đáp ứng yêu cầu tương thích, minh bạch và ổn định. Nếu pháp luật thiếu nhất quán hoặc khó dự đoán, chi phí tuân thủ sẽ tăng cao, môi trường đầu tư bị ảnh hưởng và niềm tin thị trường suy giảm. Do đó, thực hiện Nghị quyết 66 không chỉ là hoàn thiện kỹ thuật lập pháp, mà còn là bảo đảm an ninh pháp lý cho nền kinh tế, củng cố niềm tin của doanh nghiệp và người dân.
Song song đó, Nghị quyết 27 đặt ra định hướng chiến lược về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trong giai đoạn mới. Nghị quyết xác định rõ yêu cầu “thượng tôn Hiến pháp và pháp luật; quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”, đồng thời nhấn mạnh nhiệm vụ “bảo đảm, tôn trọng, bảo vệ quyền con người, quyền công dân”.

“Như vậy, nếu Nghị quyết 27 định hình khuôn khổ chính trị - pháp lý tổng thể của Nhà nước pháp quyền thì Nghị quyết 66 tập trung vào chất lượng và hiệu quả của công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Hai nghị quyết có mối quan hệ bổ sung cho nhau: Một bên là cải cách quy trình và kỹ thuật thể chế; bên kia là hoàn thiện cấu trúc quyền lực và cơ chế kiểm soát quyền lực” - ThS Hiếu nhận định.
Theo ông Hiếu, trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, sự vận động của lợi ích kinh tế ngày càng đa dạng, phức tạp. Nếu thiếu cơ chế kiểm soát quyền lực hiệu quả, thiếu minh bạch và trách nhiệm giải trình, nguy cơ lạm quyền, tham nhũng, lợi ích nhóm sẽ gia tăng. Nghị quyết 27 đã cảnh báo yêu cầu phải kiểm soát chặt chẽ quyền lực nhà nước; phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; bảo đảm mọi quyền lực đều được ràng buộc bằng trách nhiệm và cơ chế giám sát. Điều này khẳng định xây dựng Nhà nước pháp quyền không chỉ là hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật, mà còn là thiết lập cơ chế vận hành quyền lực hợp lý, minh bạch và chịu sự kiểm soát.
Từ đó, ThS Hiếu nhấn mạnh việc thực hiện đồng bộ Nghị quyết 66 và Nghị quyết 27 không chỉ là nhiệm vụ chính trị theo chương trình hành động của BCH Trung ương, mà còn là điều kiện tiên quyết để bảo đảm ổn định thể chế, nâng cao năng lực quản trị quốc gia và củng cố niềm tin xã hội. Chỉ khi pháp luật được xây dựng trên cơ sở khoa học, được thực thi nghiêm minh và quyền lực nhà nước được kiểm soát hiệu quả, Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam mới thực sự trở thành nền tảng vững chắc cho phát triển bền vững trong giai đoạn mới.

Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tú (giữa) tham dự Hội thảo "Nghị quyết số 66-NQ/TW: Tạo đột phá về tư duy xây dựng và thi hành pháp luật" do báo Pháp luật TP.HCM cùng Trường ĐH Kinh tế - Luật, ĐHQG TP.HCM tổ chức ngày 15-8-2025. Ảnh: THUẬN VĂN
Từ tư duy “việc chọn người” đến “người đáp ứng việc”
Song hành với những chủ trương trên, trong chương trình hành động, BCH Trung ương Đảng cũng chú trọng yêu cầu hoàn thiện các đề án vị trí việc làm gắn với cơ cấu lại và nâng cao chất lượng đội ngũ, đồng thời hoàn thiện cơ chế đột phá để thu hút, trọng dụng nhân tài vào các cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập.
Bên cạnh đó là hoàn thiện pháp luật về tiết kiệm, chống lãng phí và quản lý tài sản công. Đặc biệt, BCH Trung ương yêu cầu phải có một hệ thống đo lường chất lượng thực thi pháp luật được thiết lập tại các bộ, ngành, địa phương, lấy mức độ hài lòng của người dân và doanh nghiệp làm thước đo.
TS Nguyễn Đức Quyền, chuyên gia quản lý công, Học viện Cán bộ TP.HCM, nhấn mạnh trong Nhà nước pháp quyền XHCN, việc chuẩn hóa vị trí việc làm và trọng dụng nhân tài không chỉ là nhiệm vụ kỹ thuật về quản lý nhân sự, mà chính là trọng tâm quyết định của bộ máy công quyền.
“Trong nhiều năm qua, tôi nhận thấy một nghịch lý khi chúng ta có một đội ngũ hùng hậu nhưng đôi khi lại rơi vào tình trạng vừa thừa vừa thiếu. Việc hoàn thiện đề án vị trí việc làm gắn với cơ cấu lại đội ngũ chính là cuộc đại phẫu cần thiết để chấm dứt tình trạng này” - TS Quyền nói.
Theo ông, trong Nhà nước pháp quyền, mọi mắt xích vận hành chuẩn xác theo pháp luật. Vị trí việc làm chính là bản đồ của tổ chức. Khi bản đồ này tường minh, mỗi cán bộ sẽ biết rõ mình là ai, quyền hạn đến đâu và trách nhiệm thế nào.
“Điều này giúp loại bỏ tư duy “việc chọn người” theo cảm tính, thay bằng “người đáp ứng việc” theo khoa học” - TS Quyền nói và nhìn nhận đây là nền tảng để tinh gọn bộ máy, đưa những người thực tài vào đúng vị trí, tạo ra một bộ máy tinh nhuệ, chuyên nghiệp, thoát khỏi sự cồng kềnh, xơ cứng.
TS Quyền cho rằng nếu vị trí việc làm là khung thì cơ chế thu hút nhân tài chính là dòng máu nuôi dưỡng cơ thể đó. Nhà nước pháp quyền không thể được xây dựng bởi những tư duy cũ kỹ hay những bàn tay thiếu kỹ năng. Trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập sâu rộng, sự cạnh tranh khốc liệt nhất chính là cạnh tranh về chất xám.

TS Nguyễn Đức Quyền.
“Chúng ta cần đội ngũ thiết kế chính sách có tầm nhìn, những chuyên gia giỏi dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm” - TS Quyền nêu ý kiến. Theo ông, việc hoàn thiện cơ chế đãi ngộ, trọng dụng không đơn thuần là câu chuyện lương bổng, mà là tạo ra một hệ sinh thái để nhân tài được cống hiến, được bảo vệ và được tôn vinh. Khi nhân tài cảm thấy được trân trọng, họ sẽ biến pháp luật thành những giá trị sống động, phục vụ nhân dân một cách hiệu quả nhất.
Chuyên gia quản lý công nhấn mạnh từ tư duy đến hành động để không dừng lại trên mặt giấy, do vậy cần nhóm giải pháp mang tính xoay trục như xây dựng bộ chỉ số năng lực (KPIs) cụ thể cho từng vị trí việc làm dựa trên nền tảng số. Việc đánh giá cán bộ phải dựa trên kết quả thực tế (đầu ra), thay vì chỉ dựa trên bằng cấp hay thâm niên (đầu vào).
Hay như cơ chế mở trong tuyển dụng, cần mạnh dạn thí điểm tuyển dụng các vị trí lãnh đạo, quản lý và chuyên gia cấp cao từ khu vực tư nhân hoặc người Việt Nam ở nước ngoài. Xây dựng môi trường làm việc phẳng hơn, nơi ý tưởng sáng tạo được ưu tiên hơn thứ bậc hành chính.
Ngoài ra, hệ thống đãi ngộ cần cuộc cách mạng về tiền lương gắn liền với giá trị thặng dư mà cá nhân đóng góp. Quan trọng nhất là cơ chế bảo vệ giúp nhân tài yên tâm sáng tạo, đổi mới mà không sợ sai lầm trong quá trình tìm tòi cái mới vì lợi ích chung.•
Triển khai thực hiện tốt Nghị quyết 66 và Nghị quyết 27
Việc triển khai đồng bộ, hiệu quả Nghị quyết 27 và Nghị quyết 66 không đơn thuần là một cuộc cải cách kỹ thuật lập pháp, mà là bước đi chiến lược nhằm củng cố nền tảng thể chế và nâng cao năng lực quản trị quốc gia. Để các nghị quyết này thực sự đi vào đời sống, đòi hỏi một hệ giải pháp tổng thể, kết nối chặt chẽ giữa xây dựng pháp luật với tổ chức thực thi, gắn liền với kiểm soát quyền lực, cải cách bộ máy và bảo vệ quyền con người. Trong đó, nền tảng cốt lõi nhất chính là việc xác lập nhận thức thống nhất trong toàn bộ hệ thống chính trị và xã hội về các giá trị của Nhà nước pháp quyền.
ThS Nguyễn Đức Hiếu.
Tinh thần thượng tôn Hiến pháp và pháp luật phải được thẩm thấu qua hệ thống giáo dục quốc dân, đồng thời nâng cao nhận thức pháp quyền cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; đa dạng hóa hình thức phổ biến pháp luật để người dân dễ tiếp cận và chủ động thực thi quyền của mình. Khi nền tảng nhận thức được củng cố, cải cách thể chế mới có tính bền vững.
Song song đó, chất lượng lập pháp phải được nâng cao theo hướng chuyên nghiệp, khoa học và minh bạch. Quy trình xây dựng luật cần được đổi mới căn bản, trong đó đánh giá tác động chính sách phải thực chất, độc lập và dựa trên bằng chứng. Việc mở rộng cơ chế tham vấn, đặc biệt là sự phản biện từ cộng đồng doanh nghiệp và các nhóm yếu thế, kết hợp với ứng dụng công nghệ số và dữ liệu lớn, sẽ tạo ra “màng lọc” hữu hiệu ngăn chặn tình trạng lợi ích nhóm, đảm bảo mọi văn bản quy phạm pháp luật đều phản ánh đúng hơi thở của đời sống xã hội.
Đồng hành với công tác lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực phải tiếp tục được hoàn thiện thông qua việc làm rõ cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp; tăng cường hiệu lực giám sát của Quốc hội, vai trò phản biện của MTTQ và sự tham gia của xã hội. Mỗi khâu trong quy trình ban hành và tổ chức thi hành pháp luật phải gắn với trách nhiệm cá nhân cụ thể, có cơ chế đánh giá và xử lý minh bạch, khắc phục tình trạng né tránh, đùn đẩy trách nhiệm.
Việc sắp xếp bộ máy hành chính tinh gọn, hiệu lực và hiệu quả cũng là yêu cầu cấp bách để đảm bảo quyền lực được vận hành thông suốt. Quá trình phân cấp, phân quyền phải đi đôi với việc phân bổ nguồn lực và cơ chế kiểm soát phù hợp, bảo đảm quyền hạn gắn liền với trách nhiệm giải trình. Cơ chế đánh giá hoạt động của chính quyền các cấp cần dựa trên kết quả thực chất và mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp, thay vì chỉ dựa trên tiêu chí hình thức hoặc tuân thủ thủ tục.
Đặc biệt, khâu tổ chức thi hành pháp luật cần được xác định là vị trí trung tâm, quyết định hiệu lực thực tế của toàn bộ hệ thống thể chế. Điều này đòi hỏi một cuộc cách mạng trong quản trị nhà nước thông qua chuyển đổi số toàn diện, từ số hóa quy trình quản lý đến cung cấp dịch vụ công trực tuyến, nhằm giảm thiểu chi phí tuân thủ và minh bạch hóa mọi hoạt động công quyền.
Sau cùng, mọi nỗ lực cải cách thể chế đều phải lấy dân chủ và quyền con người làm kim chỉ nam và mục tiêu tối thượng. Dân chủ ở cơ sở cần được củng cố để người dân thực sự là chủ thể trong việc giám sát và phản biện các quyết định liên quan đến quyền lợi của chính mình. Hệ thống pháp luật phải được rà soát định kỳ để đảm bảo tính tương thích với Hiến pháp và các cam kết quốc tế, đồng thời tăng cường tính độc lập, chuyên nghiệp của các cơ quan tư pháp, nâng cao chất lượng xét xử và bảo đảm mọi vi phạm quyền đều được xem xét công bằng, kịp thời.
Tổng hòa các giải pháp này sẽ tạo nên một bước đột phá trong phương thức tổ chức và vận hành quyền lực nhà nước, hướng tới hiện thực hóa mục tiêu xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam minh bạch, trách nhiệm, hiệu quả, lấy quyền con người làm trung tâm trong kỷ nguyên mới.
ThS NGUYỄN ĐỨC HIẾU, ĐH Quốc tế, ĐH Quốc gia TP.HCM
Nguồn PLO: https://plo.vn/dinh-hinh-nha-nuoc-phap-quyen-trong-ky-nguyen-moi-post904406.html











