Định hình tầm vóc doanh nghiệp nhà nước trong kỷ nguyên mới
Ngay sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, việc Bộ Chính trị ban hành đồng thời Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển kinh tế Nhà nước và Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam đã tạo nên bước đột phá thể chế mang tính đồng bộ và tương hỗ sâu sắc.
Mối quan hệ biện chứng này xác lập chỉnh thể phát triển toàn diện: Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là nền tảng vật chất quyết định; Văn hóa đóng vai trò là nguồn lực nội sinh, bảo đảm tính bền vững của tiến trình phát triển lâu dài. Đây chính là hành lang vĩ mô mở đường để chuyển mạnh từ tư duy quản lý hành chính sang kiến tạo phát triển và quản trị hiện đại, tiếp thêm động lực để các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) đổi mới sáng tạo, nâng cao năng lực cạnh tranh và khẳng định vị thế vững chắc của các thương hiệu quốc gia trong bối cảnh phát triển mới.

Toàn cảnh Hội nghị triển khai Nghị quyết 79-NQ/TW và Nghị quyết 80-NQ/TW. Hội nghị được kết nối từ điểm cầu chính tại tòa nhà Quốc hội đến các điểm cầu trên cả nước.
Về mặt lý luận và thực tiễn, hai văn kiện thể hiện rõ mối quan hệ hữu cơ giữa hạ tầng kinh tế và thượng tầng văn hóa, tạo thành thể chế thống nhất nhằm củng cố nội lực quốc gia. Trong đó, Nghị quyết số 79-NQ/TW đóng vai trò gia tăng tiềm lực kinh tế, chuyển trạng thái vận hành sang chủ động kiến tạo, mở đường cho tăng trưởng chất lượng cao, để kinh tế nhà nước giữ vững vai trò nòng cốt, khơi thông các nguồn lực và thúc đẩy sự liên kết trong toàn bộ nền kinh tế. Song song với đó, Nghị quyết số 80-NQ/TW khơi dậy sức mạnh nội sinh của dân tộc, khẳng định văn hóa là nguồn lực then chốt bảo đảm cho kinh tế phát triển có chiều sâu, hài hòa và bền vững.
Việc ban hành hai văn kiện có ý nghĩa quyết sách bản lề, mở ra không gian phát triển mới cho khu vực kinh tế nhà nước. Để chuyển hóa thành công nguồn lực cộng hưởng của hạ tầng kinh tế và thượng tầng văn hóa vào thực tiễn, các DNNN cần chủ động cụ thể hóa thành lộ trình hành động dài hạn, và định hình xuyên suốt qua sáu trụ cột chiến lược sau:
Một là, DNNN giữ vai trò nòng cốt trong việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc. Quan điểm chỉ đạo thứ nhất của Nghị quyết 79-NQ/TW đã tái định vị và bổ sung một nội hàm vô cùng quan trọng vào vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, không chỉ bảo đảm ổn định vĩ mô, các cân đối lớn hay giữ vững quốc phòng - an ninh, mà kinh tế nhà nước phải "góp phần phát huy giá trị văn hóa và tiến bộ, công bằng xã hội".
Do vậy, DNNN không đơn thuần là những thực thể tìm kiếm lợi nhuận kinh tế thuần túy. Với tư cách là lực lượng vật chất chủ lực của Nhà nước, các tập đoàn, tổng công ty nhà nước nắm giữ những nguồn lực trọng yếu của quốc gia, phải đảm đương trọng trách tích hợp và gia tăng hàm lượng văn hóa Việt Nam vào hệ sinh thái giá trị của DNNN. Đây cũng chính là hành động thực thi sứ mệnh chính trị - xã hội mà Đảng và Nhà nước giao phó. Theo đó, sản phẩm, dịch vụ của DNNN phải mang các giá trị di sản, thẩm mỹ và tinh thần của con người Việt Nam.

Huyền thoại chim Lạc cùng Vietnam Airlines sải cánh năm châu.
Hai là, định vị "Bản sắc văn hóa" là năng lực cạnh tranh then chốt để phát triển thương hiệu quốc gia trên trường quốc tế. Trong khi Nghị quyết 79-NQ/TW khẳng định: "Các thương hiệu quốc gia có uy tín phải tiếp tục được đầu tư để hoạt động hiệu quả hơn", đồng thời đặt mục tiêu định lượng đưa các DNNN và ngân hàng thương mại quốc doanh lớn lọt vào các bảng xếp hạng uy tín hàng đầu Đông Nam Á, châu Á và thế giới; thì Nghị quyết 80-NQ/TW đặt mục tiêu phát triển các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP, cùng với đó yêu cầu "định vị và quảng bá thương hiệu quốc gia trên trường quốc tế mang đậm bản sắc văn hóa, con người Việt Nam" nhằm nâng cao chỉ số sức mạnh mềm của quốc gia.

Lan tỏa niềm tự hào dân tộc cùng hãng hàng không quốc gia Việt Nam.
Trên thực tế, khi bước ra "sân chơi" toàn cầu trước áp lực cạnh tranh về vốn và công nghệ từ các tập đoàn đa quốc gia, bản sắc văn hóa độc bản chính là công cụ sắc bén nhất giúp doanh nghiệp tạo nên sự khác biệt không thể sao chép. Việc tăng cường hàm lượng văn hóa trong từng sản phẩm, dịch vụ không chỉ nâng cao giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp, mà còn biến mỗi sản phẩm xuất khẩu thành một "đại sứ văn hóa", tạo nên sự cộng hưởng hài hòa giữa sức mạnh kinh tế của thương hiệu quốc gia và sức mạnh mềm văn hóa của cả dân tộc. Sự giao thoa giữa lý luận và thực tiễn này được thể hiện sinh động qua hành trình xây dựng thương hiệu của Tổng công ty Hàng không Việt Nam (Vietnam Airlines).
Trước hết, yếu tố văn hóa truyền thống đã được thẩm thấu và kết tinh sâu sắc vào từng cấu thành sản phẩm, từng điểm chạm dịch vụ: Từ tà áo dài truyền thống của đội ngũ tiếp viên và nhân viên mặt đất, tinh hoa ẩm thực vùng miền trên mây, đến thước phim hướng dẫn an toàn bay đậm chất di sản văn hóa dân tộc. Trên nền tảng bản sắc bền vững đó, những năm gần đây việc chủ động triển khai chiến lược "Nâng tầm dịch vụ" (Uplifting Service) - một mô hình quản trị dịch vụ đẳng cấp thế giới đã trở thành động lực thúc đẩy hãng hàng không Quốc gia liên tục chuẩn hóa và tiệm cận các tiêu chuẩn 5 sao quốc tế, thể hiện trọn vẹn tinh thần hội nhập sâu rộng và năng lực cạnh tranh bứt phá của một thương hiệu quốc gia trên thị trường toàn cầu.

Hình ảnh một Việt Nam văn hiến, thân thiện, hội nhập trên Quảng trường Thời đại Mỹ.
Ba là, lấy văn hóa làm sức mạnh nội sinh để bứt phá khỏi tư duy lối mòn, xác lập thế chủ động tiến công và thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Tinh thần này được quán triệt xuyên suốt hai văn kiện, trước hết qua Nghị quyết số 80-NQ/TW khi định vị văn hóa là nguồn lực nội sinh và động lực phát triển bền vững. Trong quản trị doanh nghiệp, nguồn lực tự thân ấy được định hình và bồi đắp qua việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp lành mạnh, văn minh, kết tinh từ hệ giá trị tinh thần, lòng tự tôn dân tộc cùng khát vọng cống hiến của cán bộ, đảng viên, người lao động.
Việc phát huy xung lực này tạo bệ phóng vững chắc để toàn thể đội ngũ đổi mới tư duy, chủ động thử nghiệm và quản trị rủi ro nhằm làm chủ các công nghệ lõi; đồng thời đẩy mạnh chuyển hóa nguồn tài nguyên văn hóa dân tộc để kiến tạo những sản phẩm, dịch vụ mang đậm bản sắc Việt, định vị vững chắc thương hiệu quốc gia trên trường quốc tế. Chủ trương chiến lược này được minh chứng rõ nét qua hành trình phát triển của Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội (Viettel). Bằng tinh thần tự lực, tự cường và khát vọng vươn tầm, Viettel đã tiên phong nghiên cứu, phát triển và làm chủ hệ sinh thái công nghệ 5G “Made in Vietnam”, đưa Việt Nam vào nhóm ít quốc gia tự chủ hạ tầng viễn thông tiên tiến; đồng thời mở rộng quy mô đầu tư ra 11 thị trường quốc tế, khẳng định năng lực cạnh tranh và bản lĩnh thương hiệu quốc gia trên bản đồ công nghệ toàn cầu.
Chính sự giải phóng nhận thức thấu suốt từ thượng tầng quản lý đến từng vị trí lao động trực tiếp là tiền đề quyết định để thực thi hiệu quả Nghị quyết số 79-NQ/TW, thúc đẩy doanh nghiệp mạnh dạn chuyển từ phòng ngự hành chính sang chủ động kiến tạo, khẳng định vai trò đầu tàu mở đường và tạo động lực lan tỏa cho toàn bộ nền kinh tế quốc gia.

Làm chủ công nghệ, tự chủ trong bảo dưỡng dòng máy bay thân rộng hiện đại nhất thế giới.
Bốn là, áp dụng nguyên tắc quản trị hiện đại OECD và ESG - thể chế hóa các giá trị văn hóa thành phương thức vận hành tổ chức minh bạch, chuẩn mực. Định hướng này là sự giao thoa hài hòa về tinh thần giữa hai văn kiện. Nghị quyết số 79-NQ/TW yêu cầu 100% tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước phải áp dụng nguyên tắc quản trị của OECD (Tổ chức hợp tác phát triển kinh tế), tiên phong bảo đảm an sinh lao động và yêu cầu các đối tác tuân thủ đạo đức kinh doanh, tiêu chuẩn ESG (tiêu chuẩn môi trường, xã hội, quản trị doanh nghiệp).
Trong khi đó, Nghị quyết số 80-NQ/TW nhấn mạnh nhiệm vụ xây dựng môi trường văn hóa doanh nghiệp lành mạnh, văn minh, tiếp thu tinh hoa văn hóa kinh doanh quốc tế. Thực chất, việc tuân thủ các chuẩn mực OECD và ESG chính là quá trình chuyển hóa văn hóa thành các quy trình, quy chuẩn quản trị cụ thể. Khi tính chính trực, sự minh bạch và trách nhiệm xã hội được thể chế hóa thành nguyên tắc vận hành, bộ máy doanh nghiệp sẽ tự điều chỉnh để đáp ứng các thông lệ quốc tế tiên tiến. Sự kết hợp giữa chuẩn mực quản trị hiện đại và bản sắc văn hóa dân tộc chính là chìa khóa củng cố uy tín, gia tăng niềm tin bền vững của các thương hiệu quốc gia đối với người tiêu dùng, cộng đồng nhà đầu tư trong và ngoài nước.
Năm là, đặt con người ở vị trí trung tâm, gắn bồi dưỡng đạo đức kinh doanh và văn hóa quản trị với hoàn thiện cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý ngang tầm nhiệm vụ. Thực chất, con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực quyết định sự thành bại của mọi quyết sách thể chế. Nghị quyết số 80-NQ/TW xác định "lấy xây dựng nhân cách con người làm trọng tâm", chú trọng xây dựng đội ngũ lãnh đạo với chuẩn mực đạo đức và văn hóa kinh doanh mang đậm bản sắc dân tộc, đề cao bản lĩnh tự chủ, tự cường và khát vọng cống hiến.
Trong khi đó, Nghị quyết số 79-NQ/TW tập trung giải tỏa "điểm nghẽn" về tâm lý e ngại, trì trệ bằng việc đề ra giải pháp đột phá: Xây dựng cơ chế đủ mạnh để bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Sự giao thoa ở đây thể hiện ở mối quan hệ giữa "tâm" và "thế": văn hóa đóng vai trò bồi đắp nền tảng đạo đức, lòng tự tôn dân tộc và tinh thần phụng sự Tổ quốc; còn thể chế kinh tế tạo "hành lang an toàn" để giải phóng hoàn toàn sức sáng tạo và nhiệt huyết cống hiến. Đây chính là yếu tố căn cơ để xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý DNNN có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức liêm chính và năng lực quản trị hiện đại, đủ sức dẫn dắt doanh nghiệp phát triển vươn tầm, thúc đẩy mô hình tăng trưởng theo chiều sâu, hài hòa và bền vững.

Đào tạo văn hóa nâng tầm tại TCT hàng không Việt Nam.
Sáu là, phát huy vai trò "mở đường" của kinh tế nhà nước trong đầu tư hệ thống thiết chế văn hóa, tạo bệ phóng vững chắc để chuyển hóa "tài nguyên di sản" thành nguồn lợi kinh tế, thương mại có giá trị cao. Thật vậy, văn hóa chỉ có thể trở thành động lực phát triển thực chất khi được đặt trên một nền tảng nguồn lực tương xứng. Nghị quyết số 80-NQ/TW đã đổi mới căn bản tư duy khi khẳng định "đầu tư cho văn hóa là đầu tư cho phát triển bền vững"), đồng thời đề ra chủ trương phát triển các ngành công nghiệp văn hóa và triển khai mô hình "di sản dẫn dắt phát triển kinh tế".
Nhằm hiện thực hóa định hướng này, Nghị quyết số 79-NQ/TW đã tháo gỡ nút thắt về cơ chế khi yêu cầu khẩn trương hoàn thiện khung pháp lý, mở rộng các hình thức hợp tác công - tư (PPP) đối với kết cấu hạ tầng văn hóa, thể thao và du lịch do Nhà nước đầu tư. Thông qua vai trò "hạt nhân kiến tạo" của kinh tế nhà nước trong việc “dấn thân” đầu tư vào các công trình hạ tầng văn hóa - du lịch trọng điểm quy mô lớn, Nhà nước không chỉ bảo tồn di sản mà còn kích hoạt dòng vốn xã hội, kiến tạo hệ sinh thái phát triển cho các thành phần kinh tế cùng tham gia. Sự cộng hưởng này là chìa khóa chuyển hóa các "trầm tích văn hóa" thành sản phẩm, dịch vụ có giá trị gia tăng cao, đóng góp trực tiếp vào sự phát triển nhanh và bền vững của nền kinh tế quốc gia.
Tầm nhìn chiến lược từ Nghị quyết số 79-NQ/TW và Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị đã mở ra không gian phát triển mới, khẳng định sức mạnh cốt lõi của DNNN phải được khơi nguồn từ chiều sâu văn hóa và bản sắc dân tộc. Việc phát huy các giá trị truyền thống làm nền tảng, kết hợp hài hòa với các chuẩn mực quản trị hiện đại và định hướng phát triển bền vững, sẽ tạo động lực nội sinh quan trọng giúp doanh nghiệp đẩy mạnh đổi mới sáng tạo, nâng cao năng lực chủ động về công nghệ, mở đường cho tăng trưởng chất lượng cao. Đây là định hướng căn cơ để khu vực kinh tế nhà nước tiếp tục phát huy vai trò đầu tàu, dẫn dắt, đồng hành cùng cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam hội nhập quốc tế sâu rộng, góp phần xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và phát triển thịnh vượng./.


