Định vị công nghiệp văn hóa Thủ đô trên bản đồ sáng tạo khu vực
TP Hà Nội xác định công nghiệp văn hóa sẽ trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của Thủ đô. Bước vào kỷ nguyên mới, lĩnh vực này được xác định là trụ cột tăng trưởng quan trọng.
TP Hà Nội xác định công nghiệp văn hóa sẽ trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của Thủ đô. Bước vào kỷ nguyên mới, lĩnh vực này được xác định là trụ cột tăng trưởng quan trọng. Để hiện thực hóa mục tiêu Hà Nội trở thành trung tâm công nghiệp văn hóa hàng đầu Việt Nam và Đông Nam Á vào năm 2030, trước mắt, thành phố cần chuyển từ vị thế tiên phong trong nước sang vai trò trung tâm sáng tạo có ảnh hưởng trong khu vực, đồng thời cần có giải pháp cho nguồn nhân lực sáng tạo.
Quan điểm này được PGS.TS Nguyễn Văn Hiệu, Hiệu trưởng Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật (Đại học Quốc gia Hà Nội) nhấn mạnh trong cuộc trò chuyện với Phóng viên Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội.

PV: Thưa ông, Hà Nội hiện được đánh giá là “ngọn hải đăng” về phát triển công nghiệp văn hóa. Ông đánh giá như thế nào về nỗ lực của thành phố trong nhiệm kỳ vừa qua để tháo gỡ những “điểm nghẽn”, tạo đà cho lĩnh vực này phát triển?
PGS.TS Nguyễn Văn Hiệu: Hà Nội được gọi là “ngọn hải đăng” của công nghiệp văn hóa không chỉ vì quy mô hay bề dày di sản, mà bởi trong nhiệm kỳ vừa qua, thành phố đã có những chuyển động thực chất về tư duy, thể chế và hành động. Điều quan trọng nhất, bước chuyển mang tính nền tảng, là việc văn hóa đã được xác định là nguồn lực nội sinh của phát triển, là động lực tăng trưởng gắn với kinh tế tri thức và đô thị sáng tạo.

PGS.TS Nguyễn Văn Hiệu, Hiệu trưởng Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật (Đại học Quốc gia Hà Nội)
Trên phương diện chính sách, việc ban hành Nghị quyết 09 – NQ/TU về phát triển công nghiệp văn hóa trên địa bàn Thủ đô giai đoạn 2021 - 2025, định hướng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã tạo ra một khung định hướng rất đột phá: Thí điểm mô hình trung tâm công nghiệp văn hóa và khu phát triển thương mại và văn hóa, qua đó mở ra không gian thử nghiệm các thiết chế mới.
Thực tiễn, thời gian qua cũng ghi nhận sự hình thành của hệ sinh thái sáng tạo ban đầu: Các không gian sáng tạo độc lập, lễ hội nghệ thuật, kinh tế đêm và các hoạt động du lịch văn hóa; sự gia tăng mức độ tham gia của khu vực tư nhân và cộng đồng; tư duy liên ngành bắt đầu xuất hiện trong cách tổ chức sự kiện và khai thác di sản. Tất cả cho thấy, công nghiệp văn hóa đang dần thoát khỏi tình trạng phân mảnh.
Tuy nhiên, phải thẳng thắn nhìn nhận rằng, Hà Nội vẫn đang ở giai đoạn khởi động. Thành phố cần một triết lý phát triển tổng thể hơn để chuyển từ vị thế tiên phong trong nước sang vai trò trung tâm sáng tạo có ảnh hưởng trong khu vực, một cơ chế điều phối liên ngành đủ mạnh và một chiến lược đầu tư dài hạn cho nguồn nhân lực sáng tạo. Với nền móng và định hướng đúng đắn của nhiệm kỳ vừa qua, nếu quyết liệt tái cấu trúc sâu sắc hơn, lĩnh vực công nghiệp văn hóa của Thủ đô sẽ có sự cất cánh trong giai đoạn tới đây.
PV: Về mặt thể chế, TP đã ban hành Nghị quyết 09 về phát triển công nghiệp văn hóa; HĐND TP Hà Nội cũng thông qua nghị quyết về Trung tâm công nghiệp văn hóa và khu phát triển thương mại và văn hóa, cũng như đặt mục tiêu cho năm 2030 và 2045 trong lĩnh vực này. Mới đây, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam. Theo ông, điều này sẽ tạo ra động lực cho Hà Nội như thế nào trong lĩnh vực công nghiệp văn hóa trong thời gian tới?
PGS.TS Nguyễn Văn Hiệu: Việc Thành ủy Hà Nội ban hành Nghị quyết 09-NQ/TU về phát triển công nghiệp văn hóa giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030, tầm nhìn 2045, cùng với việc Hội đồng Nhân dân Thành phố thông qua Nghị quyết 24/2025/NQ-HĐND về tổ chức và hoạt động của Trung tâm công nghiệp văn hóa, theo tôi, đã tạo nên một bước chuyển rất căn bản về mặt thể chế đối với lĩnh vực này.
Nghị quyết 09 không chỉ xác định công nghiệp văn hóa như một ngành kinh tế mũi nhọn, tạo động lực mới cho tăng trưởng và đặt mục tiêu cụ thể về tỷ trọng đóng góp GRDP mà còn tích hợp phát triển công nghiệp văn hóa vào các quy hoạch lớn của Thủ đô. Nghị quyết cũng đưa ra hệ thống giải pháp rất cụ thể bao gồm hoàn thiện cơ chế, chính sách; xác định hệ thống chỉ tiêu thống kê, đẩy mạnh số hóa, kết nối và chia sẻ dữ liệu để bảo đảm tính liên thông và chuyên nghiệp trong phát triển. Nghị quyết 09 cũng đặc biệt chú trọng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, tăng cường đào tạo, bồi dưỡng, kết nối cung cầu giữa Thành phố với doanh nghiệp và các cơ sở đào tạo uy tín trong và ngoài nước. Điều này tạo ra một không gian rất rộng cho các trường đại học tham gia sâu hơn vào hệ sinh thái sáng tạo của Thủ đô.





Ở cấp độ cụ thể hóa, Nghị quyết 24/2025/NQ-HĐND đã đưa ra những quy định cụ thể về Trung tâm công nghiệp văn hóa mà đáng chú ý là định nghĩa trung tâm như một tổ chức cung cấp hạ tầng và dịch vụ hỗ trợ sản xuất, kinh doanh sản phẩm văn hóa, phát triển hệ sinh thái sáng tạo. Đây là điểm đột phá quan trọng để hiện thực hóa các mục tiêu và chủ trương của Nghị quyết 09.
Khi đặt trong bối cảnh Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam, có thể thấy, Hà Nội đang có lợi thế đi trước một bước về chuẩn bị thể chế. Sự cộng hưởng về định hướng chiến lược ở cấp Trung ương và Thành phố sẽ tạo ra động lực kép, vừa củng cố tính chính danh, vừa mở rộng nguồn lực đầu tư để tăng tốc phát triển công nghiệp văn hóa Thủ đô.
“Thành phố nên tập trung hình thành một số không gian sáng tạo và cụm công nghiệp văn hóa có tính thí điểm, đủ quy mô và có cơ chế linh hoạt, thay vì phân tán nhỏ lẻ. Khi xuất hiện những “điểm nén” đủ mạnh, chúng sẽ tạo hiệu ứng lan tỏa, thu hút doanh nghiệp, nhà đầu tư và cộng đồng sáng tạo, đồng thời hình thành mạng lưới hợp tác bền vững”.
PGS.TS Nguyễn Văn Hiệu
Hiệu trưởng Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật

PV: Ông đánh giá như thế nào về nguồn nhân lực trong lĩnh vực công nghiệp văn hóa ở Hà Nội hiện nay? Đại học Quốc gia Hà Nội đóng vai trò ra sao trong việc kiến tạo mô hình “Nhà nước - Doanh nghiệp - Nhà trường”, để đóng góp cho sự phát triển của ngành CNVH Thủ đô?
PGS.TS Nguyễn Văn Hiệu: Về nguồn nhân lực công nghiệp văn hóa tại Hà Nội, tôi cho rằng chúng ta đang đứng trước một nghịch lý. Thủ đô có lực lượng sáng tạo rất đông đảo, từ nghệ sĩ, nhà thiết kế, kiến trúc sư, chuyên gia công nghệ và cộng đồng khởi nghiệp trẻ đồng thời cũng là nơi tập trung hệ thống các trường đại học, học viện nghệ thuật, cơ sở đào tạo lớn nhất cả nước. Tuy nhiên, Hà Nội vẫn thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao, có khả năng làm việc liên ngành, hiểu thị trường và vận hành theo chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa.
Đại học Quốc gia Hà Nội có lợi thế đặc biệt trong bối cảnh này. Với cấu trúc đại học đa lĩnh vực, từ khoa học xã hội và nhân văn, nghệ thuật, công nghệ, kinh tế đến luật và quản trị, Đại học Quốc gia Hà Nội có điều kiện hình thành các chương trình đào tạo và nghiên cứu liên ngành, đáp ứng đúng tinh thần phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao mà Nghị quyết 09 đặt ra. Trong đó, Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật không chỉ đào tạo nhân lực sáng tạo nội dung và sáng tác nghệ thuật, mà còn chú trọng đào tạo đội ngũ quản trị văn hóa, quản lý dự án sáng tạo, chuyên gia về quyền sở hữu trí tuệ, marketing văn hóa và phân tích dữ liệu thị trường.

Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật (Đại học Quốc gia Hà Nội) luôn định hướng nhân lực phải gắn liền với sự phát triển văn hóa của đất nước
Trong mô hình Nhà nước - Doanh nghiệp -Nhà trường, vai trò của Đại học Quốc gia Hà Nội không dừng lại ở cung cấp nguồn nhân lực. Chúng tôi xác định mình là một chủ thể kiến tạo tri thức và thử nghiệm chính sách. Nhà trường có thể tham gia tư vấn chiến lược, xây dựng bộ chỉ số đánh giá, nghiên cứu thị trường, đánh giá tác động kinh tế của các ngành công nghiệp văn hóa. Đồng thời, thông qua hợp tác với doanh nghiệp, chúng tôi thúc đẩy mô hình đào tạo gắn với thực tiễn, đồng thiết kế chương trình, thực tập dự án, ươm tạo startup sáng tạo.
Quan trọng hơn, trong xu thế phát triển hệ sinh thái sáng tạo, đại học cần trở thành một đầu mối thúc đẩy sự chuyển dịch từ mô hình “ba nhà” truyền thống sang “bốn nhà” khi không chỉ là nơi truyền đạt kiến thức, mà còn là nơi kết nối Nhà nước với doanh nghiệp và cộng đồng sáng tạo, nơi ý tưởng được thử nghiệm, sản phẩm được phát triển và mô hình kinh doanh được kiểm chứng. Nếu làm tốt vai trò này, Đại học Quốc gia Hà Nội nói chung và Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật nói riêng sẽ không chỉ cung cấp nhân lực cho công nghiệp văn hóa Thủ đô, mà còn góp phần định hình chuẩn mực chuyên nghiệp và tầm nhìn dài hạn cho toàn ngành.
PV: Hà Nội đặt mục tiêu, năm 2026, ngành công nghiệp văn hóa đóng góp 5% vào GRDP của thành phố. Hà Nội cũng giàu tiềm năng, nguồn lực về di sản, du lịch văn hóa, nghệ thuật biểu diễn… Từ góc nhìn của ông, thành phố nên ưu tiên đầu tư và khai thác nguồn lực nào trước tiên ở giai đoạn này để đảm bảo những mục tiêu đề ra?
PGS.TS Nguyễn Văn Hiệu: Để đạt mục tiêu đến năm 2026 công nghiệp văn hóa đóng góp 5% GRDP, theo tôi, Hà Nội cần lựa chọn đúng thứ tự ưu tiên thay vì dàn trải nguồn lực.
Đầu tiên, tôi cho rằng cần ưu tiên kinh tế di sản theo hướng “di sản sống”, tức là bảo tồn thích ứng chứ không bảo tàng hóa. Di sản phải được đặt trong đời sống đương đại, gắn với cộng đồng cư dân, nghệ nhân và doanh nghiệp sáng tạo. Thay vì chỉ trùng tu hay khai thác tham quan thị giác đơn thuần, Hà Nội nên đầu tư vào thiết kế sản phẩm văn hóa - du lịch có chiều sâu, tăng chất lượng trải nghiệm đa giác quan và khả năng chi tiêu của du khách đồng thời biến di sản trở thành nền tảng cho các ngành sáng tạo khác như thiết kế, biểu diễn, ẩm thực, thủ công hay nội dung số.

Lễ hội gò Đống Đa hay còn gọi là lễ hội chiến thắng thu hút đông đảo du khách bốn phương tụ hội, vừa thúc đẩy văn hóa vừa góp phần thúc đẩy du lịch của thành phố
Song song với đó, Thành phố nên tập trung hình thành một số không gian sáng tạo và cụm công nghiệp văn hóa có tính thí điểm, đủ quy mô và có cơ chế linh hoạt, thay vì phân tán nhỏ lẻ. Khi xuất hiện những “điểm nén” đủ mạnh, chúng sẽ tạo hiệu ứng lan tỏa, thu hút doanh nghiệp, nhà đầu tư và cộng đồng sáng tạo, đồng thời hình thành mạng lưới hợp tác bền vững.
Một trụ cột khác không thể thiếu là nguồn nhân lực sáng tạo và quản trị. Hà Nội có lợi thế hệ thống đại học lớn, vì vậy cần đầu tư mạnh vào đào tạo liên ngành, đặc biệt là quản trị văn hóa, kinh tế sáng tạo, sở hữu trí tuệ và chuyển đổi số, gắn chặt với nhu cầu thị trường.
Cuối cùng, hạ tầng số văn hóa phải được coi là điều kiện nền tảng: Xây dựng cơ sở dữ liệu mở, số hóa di sản và phát triển các nền tảng phân phối nội dung sẽ giúp mở rộng thị trường vượt khỏi giới hạn địa lý.
Tất cả cần hướng đến mục tiêu chiến lược: Tạo ra giá trị chiều sâu và cấu trúc chuỗi giá trị bền vững.

Trường Khoa học liên ngành và nghệ thuật dành riêng không gian trưng bày cho các tác phẩm nghệ thuật về văn hóa

Sinh viên tìm hiểu về di sản




PV: Thưa ông, Đại hội XIV vừa qua xác định 3 đột phá chiến lược cần tập trung trong nhiệm kỳ, bao gồm thể chế, nhân lực và hạ tầng. Trong lĩnh vực công nghiệp văn hóa của Hà Nội, theo ông, chúng ta phải tiếp tục tháo gỡ những nút thắt trên ra sao, để khai thác tối đa tiềm năng, nguồn lực nội sinh của thành phố?
PGS.TS Nguyễn Văn Hiệu: Ba đột phá chiến lược về thể chế, nhân lực và hạ tầng nếu được triển khai đúng cách sẽ tạo lực đẩy rất lớn cho công nghiệp văn hóa Hà Nội. Tuy nhiên, điều quan trọng là phải hiểu đây không phải ba trụ cột tách rời, mà là ba lớp cấu trúc đan cài trong cùng một hệ sinh thái sáng tạo.
Về thể chế, theo tôi, nút thắt lớn nhất hiện nay là cơ chế vận hành chưa đủ linh hoạt cho các mô hình sáng tạo mới. Cần có một cơ chế thử nghiệm chính sách theo hướng “sandbox”, cho phép thí điểm trong khuôn khổ kiểm soát rủi ro, đồng thời, mở rộng xã hội hóa một cách có kiểm soát, tạo điều kiện cho khu vực tư nhân tham gia đầu tư, vận hành nhưng vẫn bảo đảm định hướng văn hóa và lợi ích công cộng.

Đào tạo nguồn nhân lực văn hóa ngay từ những sản phẩm trong trường học
Về nhân lực, tôi cho rằng phải chuyển từ tư duy đào tạo đơn ngành sang liên ngành, gắn kết nghệ thuật, công nghệ, kinh tế và quản trị. Bên cạnh đào tạo nghệ sĩ và nhà sáng tạo, cần chú trọng bồi dưỡng đội ngũ quản trị văn hóa, quản lý dự án sáng tạo, chuyên gia sở hữu trí tuệ và phân tích thị trường song song với việc xây dựng cơ chế hỗ trợ nghệ sĩ trẻ và startup sáng tạo thông qua quỹ ươm tạo, chương trình cố vấn và kết nối thị trường.
Về hạ tầng, chúng ta cần hiểu theo nghĩa rộng: Hướng đến hạ tầng số và hạ tầng tri thức. Dữ liệu văn hóa dùng chung, hệ thống số hóa di sản, nền tảng phân phối nội dung và mạng lưới kết nối chuyên gia đều là phần không thể thiếu.
Trong ba đột phá này, tôi cho rằng các đại học, đặc biệt là Đại học Quốc gia Hà Nội nói chung và Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật nói riêng, có thể đóng góp như một “think tank” chính sách, một trung tâm ươm tạo sáng tạo và một phòng thí nghiệm đô thị sống (living lab), là nơi thử nghiệm các mô hình mới về không gian sáng tạo, quản trị văn hóa và hợp tác công - tư. Quan trọng hơn, chúng tôi có trách nhiệm đào tạo thế hệ “tác nhân sáng tạo mới”, những người không chỉ làm nghề, mà còn có năng lực kiến tạo hệ sinh thái.
Nếu tháo gỡ được các nút thắt về thể chế, nâng cao chất lượng nhân lực và xây dựng hạ tầng theo nghĩa toàn diện, tôi tin rằng đến tầm nhìn 2045, Hà Nội hoàn toàn có thể trở thành trung tâm sáng tạo của khu vực. Khi đó, các thiết chế tri thức như Đại học Quốc gia Hà Nội và Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật bên cạnh là nơi đào tạo, sẽ là chủ thể đồng kiến tạo tương lai sáng tạo của Thủ đô.
PV: Xin trân trọng cảm ơn ông!












