Định vị thương hiệu “Gạo Việt xanh, phát thải thấp”
Từ những kết quả bước đầu, Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp đang mở ra cơ hội chuyển ngành lúa gạo từ chú trọng sản lượng sang nâng cao chất lượng, hiệu quả và giá trị môi trường. Để thương hiệu “Gạo Việt xanh, phát thải thấp” được thị trường công nhận, cần đồng thời bảo đảm quy trình sản xuất đáng tin cậy, kết quả giảm phát thải có thể kiểm chứng, liên kết tiêu thụ ổn định và lợi ích thiết thực cho người trồng lúa.
Quy mô mở rộng, hiệu quả bước đầu rõ nét
Đánh giá kết quả Đề án “Phát triển bền vững 1 triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đến năm 2030”, Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho biết, tính đến tháng 8/2026, tại ĐBSCL và Tây Ninh, hơn 420.800 ha lúa đã áp dụng toàn bộ hoặc một phần quy trình sản xuất bền vững, với trên 175.000 hộ đăng ký tham gia Đề án.
Các mô hình ghi nhận kết quả tích cực ở cả khâu sử dụng đầu vào và hiệu quả sản xuất. Lượng giống gieo sạ giảm 30 - 50%, phân bón hóa học giảm 20 - 30%, số lần phun thuốc bảo vệ thực vật giảm 2 - 3 lần mỗi vụ, lượng nước tưới giảm 20 - 40%. Trong khi đó, năng suất tăng 5 - 12%, lợi nhuận tăng 1,5 - 9,3 triệu đồng/ha/vụ. Việc đo đạc mức giảm phát thải cũng bắt đầu được thực hiện tại các mô hình.
Đề án 1 triệu ha đã tạo ra những chuyển biến cốt lõi trong sản xuất lúa như hình thành vùng nguyên liệu tập trung, mở rộng liên kết hợp tác xã - doanh nghiệp, áp dụng kỹ thuật giảm đầu vào, giảm phát thải và bước đầu gắn sản xuất với thị trường cao cấp.

Nông dân vùng Đồng bằng sông Cửu Long sử dụng máy sạ hàng, góp phần giảm lượng giống, tiết kiệm chi phí trong sản xuất lúa chất lượng cao. Ảnh: Lê Hoàng Vũ
Thương hiệu xanh cần được bảo chứng
Mặc dù đạt được những kết quả tích cực, nhưng theo các chuyên gia, Đề án 1 triệu ha lúa vẫn cần có những cách tiếp cận mới.
Một trong những mục tiêu quan trọng của Đề án là từng bước xây dựng thương hiệu quốc gia “Gạo Việt xanh, phát thải thấp”. Muốn vậy, sản phẩm không chỉ cần đáp ứng yêu cầu về chất lượng, mà còn phải chứng minh được nguồn gốc, quy trình canh tác và kết quả giảm phát thải.
Kinh nghiệm từ Dự án Chuyển đổi chuỗi giá trị lúa gạo thích ứng với biến đổi khí hậu và bền vững tại ĐBSCL (TRVC), do Bộ Ngoại giao và Thương mại Australia hỗ trợ thông qua SNV Việt Nam, cho thấy tiềm năng kết nối giữa sản xuất bền vững, doanh nghiệp và thị trường.
Theo TS. Trần Thu Hà, Giám đốc Dự án TRVC, đến cuối vụ thứ ba, diện tích lũy kế qua các mùa vụ của dự án đạt hơn 84.400 ha; lượng giảm phát thải được báo cáo đạt gần 321.000 tấn CO2 tương đương. Lợi nhuận của các hộ sản xuất nhỏ tăng hơn 56%.
Đáng chú ý, hơn 123.100 tấn gạo của các doanh nghiệp tham gia dự án đã được cấp nhãn hiệu “Gạo Việt xanh - Phát thải thấp”, trong đó gần 53.900 tấn được xuất khẩu. Những kinh nghiệm này gợi mở cách thiết kế hỗ trợ để doanh nghiệp có động lực đầu tư vào vùng nguyên liệu, dữ liệu và chất lượng. Kết quả giảm phát thải cần đi cùng khả năng bán sản phẩm, tiếp cận tài chính và duy trì hợp đồng với nông dân.
Hiệu quả kinh tế và kết quả giảm phát thải gắn với tăng trưởng xanh
Phó Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Phân bón Bình Điền Phan Văn Tâm cho biết, việc tham gia Đề án “Phát triển bền vững 1 triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030” thúc đẩy doanh nghiệp thay đổi cách tiếp cận, hướng tới xây dựng hệ sinh thái liên kết từ làm đất, xử lý rơm rạ, gieo sạ, cung ứng giống và vật tư đến số hóa, đo đạc phát thải, thu mua và khuyến nông. Theo ông Tâm, các chương trình hợp tác tại mô hình trình diễn đã đem lại hiệu quả kinh tế và kết quả giảm phát thải rõ rệt.
Từ thực tiễn tham gia, ông Phan Văn Tâm - Phó Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Phân bón Bình Điền đề xuất tăng cường hợp tác công tư để đánh giá các mô hình theo cùng hệ thống tiêu chí, làm rõ chi phí sản xuất, lợi nhuận của nông dân, chất lượng lúa và mức giảm phát thải được xác nhận. Đồng thời, doanh nghiệp cũng kiến nghị hỗ trợ chi phí chuyển đổi ban đầu cho hợp tác xã và nông dân, đồng thời tăng cường theo dõi sức khỏe đất, quản lý dinh dưỡng theo vùng để bảo đảm hiệu quả canh tác lâu dài.
Ở góc độ tổ chức vùng nguyên liệu, nguyên Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Bùi Bá Bổng cho rằng, cần chủ động hình thành vùng sản xuất lúa chất lượng cao, phát thải thấp, không chờ đến khi có doanh nghiệp ký hợp đồng bao tiêu mới triển khai. Hệ thống thủy lợi, cơ giới hóa và tự động hóa cần được ưu tiên để nông dân áp dụng quy trình đồng bộ, giảm chi phí và nâng cao khả năng cung ứng ổn định.
Ông Bùi Bá Bổng đề xuất, trước mắt nên hướng tới khoảng 500.000 ha có hợp đồng bao tiêu, với khoảng 10 doanh nghiệp tham gia, mỗi doanh nghiệp liên kết 50.000 ha. Đây là phương án tổ chức sản xuất nhằm phát triển vùng nguyên liệu song song với mở rộng năng lực thu mua của doanh nghiệp.
Lấy nông dân làm trung tâm của chuyển đổi
Theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp, việc triển khai Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp đến năm 2030 là nhiệm vụ trọng tâm, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, hướng tới chuyển đổi căn bản tổ chức sản xuất lúa gạo tại ĐBSCL.
Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp nêu rõ, quá trình triển khai Đề án phải tạo ra sự chuyển đổi thực chất trong sản xuất nông nghiệp. Thành công không chỉ được đo bằng diện tích tham gia, mà còn phải thể hiện ở chất lượng hạt gạo, hiệu quả sản xuất, thu nhập nông dân, mức giảm phát thải có thể kiểm chứng và sức cạnh tranh bền vững của ngành hàng.
“Chúng ta không thể để người nông dân một mình gánh vác chi phí của quá trình chuyển đổi” - Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp nhấn mạnh. Theo Thứ trưởng, việc khuyến khích nông dân áp dụng phương thức canh tác giảm phát thải phải đi cùng cơ chế bảo đảm quyền lợi, tránh để người sản xuất đối mặt với nguy cơ giảm thu nhập.
Theo đó, Đề án cần được triển khai trong một chương trình tổng thể, thống nhất, với quan điểm lấy nông dân làm trung tâm, doanh nghiệp làm động lực và khoa học, công nghệ làm nền tảng. Nhà nước có trách nhiệm xây dựng cơ chế, chính sách hỗ trợ và quản trị rủi ro; đồng thời tăng cường huy động các định chế tài chính, tổ chức quốc tế và đối tác phát triển.
Thứ trưởng cũng đề nghị chuyển từ cách triển khai các dự án riêng lẻ sang phối hợp trong khuôn khổ chương trình chung, bảo đảm các hoạt động liên kết, bổ trợ và kế thừa kết quả giữa các dự án. Nguồn lực đầu tư công tiếp tục giữ vai trò chủ đạo, nhưng cần huy động thêm vốn ưu đãi, hỗ trợ kỹ thuật và các hình thức hợp tác phù hợp để đáp ứng nhu cầu thực hiện Đề án.
10 phụ nữ tiêu biểu trong hệ thống nông nghiệp - thực phẩm và phát triển nông thôn Việt Nam được FAO vinh danh
Trong khuôn khổ Hội nghị Ngày Lương thực thế giới năm 2026 và tăng cường hợp tác triển khai Đề án “Phát triển bền vững 1 triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng ĐBSCL đến năm 2030” do Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc tổ chức mới đây, 10 phụ nữ tiêu biểu có đóng góp cho nông nghiệp, hệ thống nông nghiệp - thực phẩm và phát triển nông thôn được tôn vinh.
Các gương mặt được ghi nhận đến từ nhiều lĩnh vực, gồm trực tiếp tổ chức sản xuất, phát triển doanh nghiệp và chuỗi giá trị, nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ, khuyến nông và quản lý.
Hoạt động này khẳng định vai trò của phụ nữ trong đổi mới sáng tạo, phát triển sinh kế và xây dựng chuỗi giá trị bền vững, đồng thời nhấn mạnh sự cần thiết tạo điều kiện để phụ nữ tiếp cận tri thức, công nghệ, nguồn vốn và thị trường, tham gia vào quá trình ra quyết định và đảm nhận vai trò lãnh đạo.
