DN chủ động truy xuất nguồn gốc trong chuỗi cung ứng
Trước những thay đổi trong chính sách thương mại của Mỹ và lộ trình thực hiện Thông tư số 31, các doanh cần chủ động rà soát, chuẩn hóa và nâng cao khả năng truy xuất nguồn gốc trong toàn bộ chuỗi cung ứng.

Hình minh họa
Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước cho biết theo Bản ghi nhớ ngày 23-7-2026 của Tổng thống Mỹ, Việt Nam là một trong 60 nền kinh tế mà Cơ quan Đại diện Thương mại Mỹ (USTR) điều tra theo Mục 301 nhằm xem xét việc các nền kinh tế này chưa ban hành hoặc chưa thực thi hiệu quả lệnh cấm nhập khẩu hàng hóa được sản xuất toàn bộ hoặc một phần bằng lao động cưỡng bức hay không.
Việt Nam được liệt kê tại vị trí thứ 60 trong danh sách các nền kinh tế thuộc phạm vi điều tra.
Theo đó, hàng hóa có xuất xứ Việt Nam thuộc nhóm áp dụng mức thuế 12,5%, trừ các sản phẩm được miễn theo Phụ lục của Bản ghi nhớ.
Đáng chú ý, Bản ghi nhớ nhấn mạnh hàng hóa được sản xuất “toàn bộ hoặc một phần” bằng lao động cưỡng bức. Điều này cho thấy rủi ro không chỉ phát sinh tại công đoạn sản xuất sản phẩm cuối cùng mà còn có thể bắt nguồn từ nguyên liệu, linh kiện, bán thành phẩm hoặc một công đoạn bất kỳ trong chuỗi cung ứng.
Cũng theo Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước, Bản ghi nhớ của Mỹ không quy định trực tiếp một quy trình truy xuất nguồn gốc cụ thể đối với từng doanh nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên, để chứng minh sản phẩm không được sản xuất toàn bộ hoặc một phần bằng lao động cưỡng bức, doanh nghiệp phải có khả năng xác định và cung cấp thông tin đáng tin cậy về nguồn gốc nguyên liệu, nhà cung cấp, địa điểm sản xuất và các công đoạn hình thành sản phẩm.
Về phía Việt Nam, ngày ngày 11-6, Bộ Công Thương ban hành Thông tư số 31 quy định về truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa thuộc phạm vi quản lý của Bộ Công Thương. Thông tư áp dụng bắt buộc đối với sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro cao thuộc phạm vi quản lý của bộ này; đối với các sản phẩm, hàng hóa khác, thương nhân được khuyến khích tự nguyện thực hiện truy xuất nguồn gốc.
Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước lưu ý, trước những thay đổi trong chính sách thương mại của Mỹ và lộ trình thực hiện Thông tư số 31, các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu và xuất khẩu cần chủ động rà soát, chuẩn hóa và nâng cao khả năng truy xuất nguồn gốc trong toàn bộ chuỗi cung ứng.
Cần lưu ý, phạm vi hàng hóa có nguy cơ bị Mỹ kiểm tra về lao động cưỡng bức, chuyển tải hoặc lẩn tránh biện pháp thương mại không hoàn toàn trùng với Danh mục hàng hóa rủi ro cao của Việt Nam. Nhiều sản phẩm dệt may hiện thuộc nhóm rủi ro trung bình; một số nhiên liệu thuộc nhóm rủi ro cao; trong khi bông, xơ, sợi, linh kiện bán dẫn, tấm quang điện, pin lưu trữ và một số vật liệu đầu vào chưa phải tất cả đều được phân loại là hàng hóa rủi ro cao theo quy định trong nước.
Đối với bông, xơ, sợi và nguyên liệu đầu vào khác, doanh nghiệp vẫn cần chủ động truy xuất sâu hơn theo yêu cầu của thị trường xuất khẩu, kể cả khi nguyên liệu đó chưa thuộc Danh mục rủi ro cao theo pháp luật trong nước.
Đối với hàng hóa xuất khẩu, doanh nghiệp cần chủ động thực hiện các nội dung sau: rà soát và lập bản đồ chuỗi cung ứng, xác định nhà cung cấp trực tiếp và các nhà cung cấp ở tầng sâu hơn;
Thu thập, lưu giữ hồ sơ về nguồn gốc nguyên liệu, linh kiện, địa điểm sản xuất, vận chuyển và giao nhận. Phân loại nhà cung cấp theo mức độ rủi ro, tăng cường thẩm tra đối với nguồn hàng từ khu vực, doanh nghiệp hoặc ngành hàng có cảnh báo.
Chuẩn hóa dữ liệu truy xuất theo từng sản phẩm, lô, mẻ hoặc số sê-ri. Kiểm soát chặt chẽ xuất xứ, không thực hiện hoặc tiếp tay cho chuyển tải, thay nhãn, đóng gói đơn giản để khai báo xuất xứ Việt Nam.
Đưa yêu cầu về truy xuất nguồn gốc, lao động và xuất xứ vào hợp đồng với nhà cung cấp. Chuẩn bị đầu mối và hồ sơ để phản ứng nhanh khi cơ quan quản lý hoặc đối tác nhập khẩu yêu cầu xác minh. Hồ sơ cần được tổ chức theo cách có thể nhanh chóng truy xuất ngược từ sản phẩm cuối cùng về nguyên liệu và truy xuất xuôi từ nguyên liệu đến các lô sản phẩm có liên quan.
Việc cung cấp thông tin chậm, thiếu nhất quán hoặc không chứng minh được mối liên hệ giữa chứng từ và hàng hóa thực tế có thể làm tăng nguy cơ lô hàng bị kiểm tra, tạm giữ hoặc từ chối nhập khẩu.











