Đồ chơi 'bánh bao' nhập lậu: Khi nào người bán bị xử lý hình sự?
Gần 1.300 sản phẩm đồ chơi hình bánh bao nhập lậu vừa bị lực lượng chức năng phát hiện, tạm giữ tại Hà Nội. Vụ việc đặt ra câu hỏi: Vậy, hành vi nào trong kinh doanh hàng nhập lậu bị truy cứu trách nhiệm hình sự?
Gần 1.300 đồ chơi nhập lậu bị tạm giữ
Ngày 14-10, Đội Quản lý thị trường số 2 (Chi cục Quản lý thị trường thành phố Hà Nội) kiểm tra cửa hàng kinh doanh đồ chơi trẻ em tại số 19 phố Đồng Xuân, phường Hoàn Kiếm, thuộc hộ kinh doanh N.P.L.
Tại thời điểm kiểm tra, cơ sở đang kinh doanh 1.283 sản phẩm đồ chơi trẻ em hình bánh bao các loại do nước ngoài sản xuất. Chủ cơ sở không xuất trình được hóa đơn, chứng từ chứng minh nguồn gốc hợp pháp của số hàng hóa.

Lực lượng chức năng kiểm tra hàng hóa tại cửa hàng kinh doanh đồ chơi. Ảnh: Chi cục QLTT Hà Nội
Lực lượng chức năng xác định đây là hàng nhập lậu, có tổng trị giá 10,97 triệu đồng theo giá bán niêm yết tại cửa hàng, đồng thời tạm giữ toàn bộ để tiếp tục xử lý theo quy định.
Đồ chơi hình bánh bao, dạng bóp mềm, dễ thu hút trẻ nhỏ bởi hình dáng bắt mắt, mô phỏng thực phẩm. Tuy nhiên, vẻ ngoài hấp dẫn không thể thay thế những yêu cầu về nguồn gốc, chất lượng và mức độ an toàn của sản phẩm.
Khi hàng hóa không có hồ sơ chứng minh nguồn gốc hợp pháp, việc kiểm soát chất lượng, truy xuất nguồn cung và xác định trách nhiệm của các bên liên quan cũng gặp nhiều khó khăn.
Vụ việc đặt ra vấn đề pháp lý về ranh giới giữa xử phạt hành chính và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi kinh doanh hàng nhập lậu, nhất là khi giá trị hàng hóa không lớn.
Giá trị nhỏ không đồng nghĩa được miễn trách nhiệm hình sự
Trao đổi về vấn đề này, luật sư Phạm Hải Long, Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội, cho rằng, để xác định trách nhiệm pháp lý của người kinh doanh hàng nhập lậu, trước hết cần làm rõ tính chất, mức độ vi phạm, giá trị hàng hóa và vai trò cụ thể của người liên quan. Không phải mọi trường hợp buôn bán hàng nhập lậu đều cấu thành tội phạm, nhưng cũng không thể mặc nhiên cho rằng hàng hóa có giá trị nhỏ thì chỉ bị xử phạt hành chính.
Về chế tài hành chính, hành vi kinh doanh hàng hóa nhập lậu được xem xét xử lý theo Nghị định số 98/2020/NĐ-CP và các văn bản sửa đổi, bổ sung, trong đó có Nghị định số 24/2025/NĐ-CP. Mức xử phạt cụ thể phụ thuộc vào giá trị tang vật, loại hàng hóa, tính chất hành vi và các tình tiết của vụ việc.
Phân tích dưới góc độ hình sự, luật sư Phạm Hải Long lưu ý, theo Điều 188 Bộ luật Hình sự, tội “Buôn lậu” gắn với hành vi buôn bán trái pháp luật qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa và ngược lại. Đối với hàng hóa thông thường, giá trị từ 100 triệu đồng là một trong những căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự.
Tuy nhiên, trường hợp hàng hóa có giá trị dưới 100 triệu đồng, người thực hiện hành vi vẫn có thể bị xử lý hình sự nếu đáp ứng những điều kiện khác được pháp luật quy định, chẳng hạn đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong những hành vi được điều luật liệt kê hoặc đã bị kết án về một trong những tội danh tương ứng, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
Theo luật sư, điểm cần phân biệt là hành vi kinh doanh hàng nhập lậu trong nội địa với hành vi buôn lậu qua biên giới. Việc một cửa hàng bày bán hàng hóa không có hóa đơn, chứng từ hợp pháp chưa đủ để kết luận chủ cửa hàng phạm tội “Buôn lậu”. Muốn xem xét trách nhiệm hình sự, cơ quan tiến hành tố tụng phải làm rõ người đó có trực tiếp thực hiện hành vi buôn lậu hoặc tham gia với vai trò đồng phạm hay không.
Đối với trường hợp kinh doanh diễn ra nhiều lần, việc xem xét trách nhiệm hình sự cũng phải căn cứ vào chứng cứ cụ thể, mối liên hệ giữa các lần vi phạm và quy định pháp luật tương ứng. Không thể chỉ dựa vào nhận định hoạt động kinh doanh diễn ra “có hệ thống” rồi tự cộng dồn giá trị các lô hàng để khẳng định đã đủ căn cứ khởi tố.
Đối với vụ việc tại phố Đồng Xuân, thông tin được công bố đến nay mới cho thấy lực lượng chức năng phát hiện, tạm giữ số đồ chơi nhập lậu để tiếp tục xử lý. Chưa có cơ sở khẳng định chủ cơ sở kinh doanh sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Nếu quá trình xác minh phát hiện dấu hiệu tội phạm, hồ sơ phải được chuyển đến cơ quan có thẩm quyền xem xét theo quy định.

