Đo hiệu quả chương trình mục tiêu quốc gia cần gắn với kết quả thụ hưởng của người dân
Sáng 19/8, Tổ 15 (gồm Đoàn ĐBQH tỉnh Phú Thọ, TP. Đà Nẵng) thảo luận về định hướng xây dựng dự án Luật Ngân sách nhà nước (hợp nhất) và dự thảo Nghị quyết phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa - xã hội nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026 - 2035. Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Bùi Thị Minh Hoài dự phiên thảo luận.

Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư tỉnh ủy, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Phú Thọ Phạm Đại Dương chủ trì thảo luận Tổ 15
Khắc phục tình trạng phân tán, chồng chéo và dàn trải nguồn lực
Qua nghiên cứu dự thảo Nghị quyết phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa - xã hội nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026 - 2035 và Báo cáo thẩm tra của Hội đồng Dân tộc, ĐBQH Đặng Bích Ngọc (Phú Thọ) bày tỏ cơ bản đồng tình với các nội dung, cũng như sự cần thiết của việc tích hợp 4 chương trình mục tiêu quốc gia thành 1 chương trình mục tiêu quốc gia.

ĐBQH Đặng Bích Ngọc (Phú Thọ) phát biểu
Theo đại biểu, trong giai đoạn hiện nay, khi chúng ta đang thực hiện mục tiêu phát triển hai con số cũng như mô hình chính quyền địa phương hai cấp, việc Chính phủ đề xuất tích hợp 4 chương trình mục tiêu quốc gia để thực hiện tổng thể, bài bản và có lộ trình là hoàn toàn phù hợp, đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Đồng thời, khắc phục được tình trạng phân tán, chồng chéo và dàn trải nguồn lực.
Liên quan đến mục về giải pháp thực hiện chương trình, đại biểu Đặng Bích Ngọc đề nghị bổ sung nội dung khẩn trương rà soát, sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật để ban hành khung pháp lý thống nhất, đồng bộ cho tổ chức thực hiện; đảm bảo nguyên tắc không chồng chéo, tăng phân cấp cho cơ sở. Đại biểu nhìn nhận, thời gian qua trong quá trình tổ chức thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia, vấn đề điểm nghẽn nhất vẫn là các văn bản hướng dẫn quá nhiều và dàn trải ở rất nhiều nội dung.
Do đó, việc ban hành khung pháp lý thống nhất, đồng bộ cho tổ chức thực hiện là rất cần thiết để khi Nghị quyết được thông qua, các địa phương có thể bắt tay ngay vào thực hiện và đảm bảo thực hiện thống nhất ở tất cả địa phương, hướng tới nâng cao chất lượng, hiệu quả, tiết kiệm nguồn lực.
Cũng theo đại biểu, mục tiêu của 4 chương trình, trong đó mục tiêu tổng quát cũng như các mục tiêu cụ thể ở các Nghị quyết trước đã rất chi tiết. Do đó, tại Nghị quyết lần này, đại biểu đề nghị rà soát kỹ các mục tiêu để đảm bảo những nội dung trước đây đang thực hiện sẽ tiếp tục được triển khai, tạo điều kiện thuận lợi cho các địa phương khi đã bố trí nguồn lực.
Theo ĐBQH Trần Mạnh Huy (TP. Đà Nẵng), dự thảo Nghị quyết mới chỉ giữ tổng mức 808.558 tỷ đồng và đề nghị giao Chính phủ quyết định cơ cấu từng nguồn lực. Đồng tình với việc trao cho Chính phủ sự chủ động, bởi không thể áp dụng máy móc một tỷ lệ đầu tư và thường xuyên cho tất cả các lĩnh vực, tuy nhiên đại biểu cũng cho rằng, sự chủ động đó phải nằm trong giới hạn chính sách mà Quốc hội quyết định.

ĐBQH Trần Mạnh Huy (TP. Đà Nẵng) phát biểu
Vì vậy, tại khoản 5 Điều 1 của dự thảo Nghị quyết, đại biểu đề nghị xác định rõ các cấu phần lớn của nguồn lực và giới hạn điều chỉnh giữa chi đầu tư công với chi thường xuyên.
Chính phủ được chủ động cơ cấu lại trong tổng nguồn lực và trong giới hạn Quốc hội quyết định, nhưng không được làm thay đổi tổng vốn đầu tư, mục tiêu, đối tượng thụ hưởng, mức độ ưu tiên và những nội dung thuộc chủ trương đầu tư. Nếu vượt giới hạn này thì phải báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội hoặc Quốc hội xem xét, quyết định theo thẩm quyền. Theo đại biểu, đây là cách vừa bảo đảm linh hoạt trong điều hành, vừa không làm mờ quyền quyết định ngân sách và chủ trương đầu tư của Quốc hội.
Về dữ liệu và cách đo kết quả chương trình, theo đại biểu Trần Mạnh Huy, khoản 8 Điều 1 và Điều 2 dự thảo Nghị quyết đã đặt nền tảng cho quản lý theo kết quả đầu ra. Đại biểu đề nghị quy định rõ hơn dữ liệu phải được phân tách theo nhóm mục tiêu, lĩnh vực, nguồn vốn, địa bàn, đối tượng thụ hưởng, giới tính, dân tộc, độ tuổi, tình trạng khuyết tật và mức sống.
Đại biểu nhấn mạnh, không thể chỉ đo chương trình bằng tỷ lệ giải ngân, mà phải đo được thu nhập có tăng hay không, việc làm có bền vững hay không, khả năng tiếp cận giáo dục, y tế, văn hóa có được cải thiện hay không và nhóm dân cư nào vẫn chưa thực sự được thụ hưởng.
Cần rà soát lại về thư viện, bảo tàng, tránh tình trạng phấn đấu xây dựng nhưng không hiệu quả
ĐBQH Nguyễn Hải Long (TP. Đà Nẵng) cũng bày tỏ tán thành sự cần thiết hợp nhất 4 chương trình mục tiêu quốc gia thành 1 chương trình chung.

ĐBQH Nguyễn Hải Long (TP. Đà Nẵng) phát biểu
Theo đại biểu, tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Nghị quyết số 28/2026/QH16 về phát triển văn hóa Việt Nam, trong đó ấn định Nhà nước bảo đảm chi cho văn hóa hằng năm tối thiểu 2% tổng chi ngân sách Nhà nước. Trước đó, Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị cũng nêu chỉ tiêu này.
Khi Nghị quyết của Quốc hội phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026-2035 được thông qua, lĩnh vực văn hóa được bảo vệ bằng hai lớp: sàn 2% của Nghị quyết số 28 và nhóm nhiệm vụ thứ năm của Chương trình. Vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi chỉ còn một lớp - nhóm nhiệm vụ thứ sáu, mà lớp này không có sàn, không có tiêu chí chuyên ngành, lại bị chính điểm c khoản 1 Điều 2 loại trừ khả năng đặt tỷ lệ.
Do đó, đại biểu đề nghị Chính phủ làm rõ: chi cho văn hóa từ Chương trình mục tiêu quốc gia có được tính vào tỷ lệ sàn 2% của Nghị quyết số 28 hay không? Nếu có thì cần cơ chế kiểm soát, tránh tình trạng một khoản chi phục vụ hai cam kết trước Quốc hội.
Cũng theo đại biểu, trong 354 nội dung được rà soát, có 119 nội dung liên quan trực tiếp đến chính sách dân tộc và 32 nội dung trong đó bị chuyển sang “kinh phí thường xuyên của cơ quan, đơn vị hoặc ngân sách địa phương theo phân cấp”.
Cụ thể gồm: duy tu, bảo dưỡng công trình và thiết bị sau đầu tư tại trường phổ thông dân tộc nội trú, bán trú và thiết chế văn hóa thôn bản; duy trì điểm hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số ứng dụng công nghệ thông tin tại xã, thôn; bồi dưỡng tiếng dân tộc thiểu số; chính sách đối với người có uy tín, già làng, trưởng bản; phổ biến, giáo dục pháp luật và hòa giải ở cơ sở; vận hành hệ thống dữ liệu theo dõi trình độ phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Đại biểu cho rằng, duy tu, bảo dưỡng ở vùng cao không phải khoản chi hành chính. Đó là điều kiện để công trình đã đầu tư không xuống cấp. Nhà văn hóa thôn bản xây xong mà không có kinh phí vận hành thì vài năm sau sẽ bỏ trống, khoảng cách thụ hưởng giữa vùng cao và vùng thấp không thu hẹp mà còn giãn ra. Điều này đi ngược đúng định hướng “giảm chênh lệch thụ hưởng văn hóa giữa các vùng” mà Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị đã đặt ra.

Toàn cảnh phiên thảo luận tại Tổ 15 (Đoàn ĐBQH TP. Đà Nẵng, tỉnh Phú Thọ)
Vì vậy, đại biểu Nguyễn Hải Long đề nghị rà soát lại danh mục này, giữ trong ngân sách trung ương ít nhất 4 nhóm: duy tu, bảo dưỡng công trình vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; vận hành điểm hỗ trợ công nghệ thông tin cấp xã, thôn; chính sách người có uy tín và trợ giúp pháp lý.
Đại biểu cũng đề nghị nhân dịp này cần rà soát lại về thư viện, bảo tàng, nhất là thư viện; tránh tình trạng phấn đấu xây dựng nhưng không hiệu quả. Cần rà soát toàn bộ các nội dung: nội dung thiết thực cần giữ lại, nội dung không thiết thực nên bỏ, không chỉ gộp cơ học 4 chương trình.
