Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Cà Mau thảo luận, góp ý 3 dự án luật
Tại phiên thảo luận Tổ chiều 26/10, các đại biểu Quốc hội tỉnh Cà Mau đã đề xuất nhiều nội dung thiết thực nhằm hoàn thiện 3 dự án Luật An ninh dữ liệu, Luật Định danh và xác thực điện tử, Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi).

Đại biểu Nguyễn Bình Tân, Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Phó Trưởng đoàn chuyên trách Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Cà Mau, Uỷ viên Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội, điều hành phiên thảo luận Tổ số 12 (gồm Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Cà Mau và Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Phú Thọ)
Phát biểu thảo luận, đại biểu Phan Chí Hiếu, Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Uỷ viên Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Uỷ ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội, nhấn mạnh sự cần thiết ban hành Luật An ninh dữ liệu, nhằm thiết lập khuôn khổ pháp lý vững chắc để bảo vệ chủ quyền, an ninh dữ liệu quốc gia trong kỷ nguyên số.

Đại biểu Phan Chí Hiếu, Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Uỷ viên Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Uỷ ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội, góp ý hoàn thiện các quy định của dự thảo Luật An ninh dữ liệu.
Từ góc độ kỹ thuật lập pháp, đại biểu tập trung phân tích 5 nhóm vấn đề nhằm bảo đảm dự thảo luật có tính thống nhất, chặt chẽ và phù hợp với hệ thống pháp luật hiện hành.
Trước hết, đại biểu đề nghị rà soát kỹ mối quan hệ giữa Luật An ninh dữ liệu với các luật có liên quan, nhất là Luật Dữ liệu số, Luật An ninh mạng, Luật An toàn thông tin mạng và Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân. Dự thảo cần tập trung quy định những nội dung mang tính đặc thù về bảo vệ an ninh dữ liệu, tránh lặp lại các quy định đã có, gây chồng chéo hoặc khó khăn trong quá trình áp dụng.
Đối với những quy định trong các luật hiện hành không còn phù hợp, cần nghiên cứu sửa đổi, bổ sung đồng bộ ngay trong quá trình hoàn thiện dự thảo. Cách tiếp cận này có ý nghĩa quan trọng bởi an ninh dữ liệu liên quan đến nhiều ngành, lĩnh vực; nếu ranh giới điều chỉnh không rõ ràng sẽ dễ phát sinh cách hiểu khác nhau, ảnh hưởng đến hiệu quả thực thi pháp luật.
Đại biểu Phan Chí Hiếu đề nghị chuẩn hoá nội dung theo đúng bản chất của quy phạm giải quyết xung đột pháp luật trong Điều 3 về áp dụng pháp luật và chuẩn hoá các hành vi bị nghiêm cấm tại Điều 6. Rà soát, bảo đảm thống nhất về thuật ngữ, cách mô tả hành vi giữa Luật An ninh dữ liệu và Bộ luật Hình sự, nhất là các hành vi chiếm đoạt, mua bán, làm lộ, làm sai lệch, phá huỷ dữ liệu trái phép hoặc sử dụng công cụ, phần mềm có mã độc nhằm xâm phạm dữ liệu, nhằm tạo cơ sở thuận lợi cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử khi phát sinh hành vi có dấu hiệu tội phạm.
Đối với quy định cấm cản trở hoạt động của cơ quan, người có thẩm quyền, đại biểu đề nghị giới hạn rõ phạm vi thành hành vi cản trở trái pháp luật hoạt động bảo vệ an ninh dữ liệu.

Đại biểu Trần Hoài Nam, Uỷ viên chuyên trách Uỷ ban Dân nguyện và Giám sát của Quốc hội, phát biểu thảo luận.
Tham gia thảo luận về dự án Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi), đại biểu Trần Hoài Nam, Uỷ viên chuyên trách Uỷ ban Dân nguyện và Giám sát của Quốc hội, đề xuất hoàn thiện quy định về thời hiệu xử phạt, xử lý vi phạm trên môi trường điện tử và các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt.
Đại biểu đồng tình định hướng nâng thời hiệu từ 1 năm lên 2 năm hoặc 3 năm đối với một số lĩnh vực như bảo vệ môi trường, quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hoá và an toàn thực phẩm. Thực tế, việc phát hiện và làm rõ vi phạm trong các lĩnh vực này có thể đòi hỏi quá trình kiểm định, phân tích và đối chiếu dữ liệu kéo dài. Vì vậy, quy định thời hiệu phù hợp sẽ góp phần hạn chế tình trạng cố tình trì hoãn để né tránh xử phạt, đồng thời tránh mở rộng thời hiệu một cách dàn trải.
Đối với xử lý vi phạm hành chính trên môi trường điện tử, đại biểu đánh giá cao việc dự thảo bổ sung quy định tại Điều 19, coi đây là bước tiến phù hợp với chủ trương chuyển đổi số quốc gia, góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và giảm chi phí tuân thủ.
Theo đại biểu, cần tiếp tục đơn giản hoá quy trình xử lý đối với những vi phạm đã được ghi nhận đầy đủ, khách quan và chính xác bằng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ như hệ thống camera giám sát giao thông hoặc thiết bị đo đạc tự động. Nghiên cứu cơ chế xử lý điện tử phù hợp, hạn chế những thủ tục trung gian không cần thiết khi chứng cứ đã rõ ràng. Việc đơn giản hoá thủ tục cần gắn với yêu cầu bảo đảm tính xác thực của dữ liệu, quyền tiếp cận chứng cứ, quyền giải trình và cơ chế kiểm tra, xử lý khi có sai sót.
Về các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt tại Điều 74, dự thảo bổ sung những biện pháp như yêu cầu ngừng cung cấp dịch vụ điện, nước, Internet, viễn thông, hạ tầng số hoặc tạm dừng đăng ký, đăng kiểm phương tiện giao thông; theo đại biểu, đây là những biện pháp có tác động trực tiếp đến đời sống người dân và hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Vì vậy, dự thảo cần quy định chặt chẽ về điều kiện áp dụng, phạm vi, mức độ cưỡng chế, thẩm quyền quyết định và trình tự, thủ tục thực hiện. Việc áp dụng phải tương xứng với tính chất, mức độ vi phạm.
Đáng chú ý, đại biểu Trần Hoài Nam đề nghị nghiên cứu bổ sung hình thức xử phạt lao động công ích trong một khoảng thời gian nhất định đối với một số hành vi vi phạm trật tự công cộng, an toàn giao thông, gắn với mục tiêu giáo dục ý thức trách nhiệm và nâng cao tinh thần tôn trọng cộng đồng. Đây là nội dung cần tiếp tục nghiên cứu thận trọng, quy định rõ đối tượng, điều kiện, phạm vi và cách thức tổ chức thực hiện; đồng thời có những trường hợp loại trừ phù hợp như người cao tuổi, người khuyết tật, phụ nữ mang thai hoặc đang nuôi con nhỏ, nhằm bảo đảm tính nhân văn, khả thi và phù hợp với các nguyên tắc pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.

Đại biểu Nguyễn Duy Thanh, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Cà Mau, Uỷ viên Uỷ ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội, góp ý chính sách xử phạt theo hướng phù hợp quy mô doanh nghiệp, giảm thủ tục và bảo đảm quyền giải trình.
Từ thực tiễn địa phương, đại biểu Nguyễn Duy Thanh, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Cà Mau, Uỷ viên Uỷ ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội, đưa ra nhiều kiến nghị thiết thực gắn liền với hoạt động sản xuất, kinh doanh của cộng đồng doanh nghiệp.
Đại biểu cho rằng, các quy định về hoãn thi hành quyết định phạt tiền và nộp tiền phạt nhiều lần là chính sách có ý nghĩa nhân văn, giúp tổ chức, cá nhân gặp khó khăn đặc biệt về kinh tế có điều kiện khắc phục vi phạm và ổn định hoạt động. Tuy nhiên, ngưỡng tiền phạt được quy định trong dự thảo cần được rà soát để phù hợp hơn với thực tế của doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ. Bên cạnh đó, cần khắc phục khoảng cách chênh lệch mức xử phạt giữa hộ kinh doanh và doanh nghiệp siêu nhỏ để bảo đảm sự công bằng, tránh tạo rào cản cho chủ trương khuyến khích hộ kinh doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp.
Liên quan thời hạn xác minh và quyền giải trình, đại biểu Nguyễn Duy Thanh ghi nhận dự thảo đã quan tâm hơn đến trách nhiệm xác định hành vi vi phạm, thông báo bằng văn bản và bảo đảm quyền yêu cầu cung cấp kết quả thu thập bằng phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ. Tuy nhiên, đại biểu đề nghị quy định cụ thể thời hạn tối đa để xác định tổ chức, cá nhân vi phạm và gửi thông báo kể từ khi có kết quả kỹ thuật; đồng thời làm rõ căn cứ gia hạn, thẩm quyền quyết định gia hạn và trách nhiệm công vụ trong trường hợp chậm trễ.ếu chỉ sử dụng yêu cầu mang tính định tính như “phải nhanh chóng” mà không xác định thời hạn cụ thể, quá trình thực hiện có thể phát sinh cách hiểu và áp dụng khác nhau, gây khó khăn cho cả cơ quan xử phạt lẫn người có liên quan.
Đại biểu cũng đề nghị khi thông báo vi phạm thuộc trường hợp được giải trình, cơ quan xử phạt cần cung cấp đầy đủ dữ liệu kỹ thuật làm căn cứ và thông tin kiểm định, hiệu chuẩn của thiết bị đo lường có liên quan.
Thực tiễn trong lĩnh vực bảo vệ môi trường cho thấy, khi kết quả quan trắc nước thải bị nghi ngờ vượt quy chuẩn, doanh nghiệp cần có điều kiện đối chiếu với nhật ký vận hành, hồ sơ bảo trì và tình trạng hoạt động của hệ thống xử lý chất thải tại thời điểm ghi nhận. Nếu thông báo quá muộn hoặc thiếu dữ liệu chứng cứ, việc giải trình và xác minh khách quan có thể gặp khó khăn. Vì vậy, bảo đảm quyền tiếp cận chứng cứ không chỉ bảo vệ quyền lợi hợp pháp của tổ chức, cá nhân, mà còn giúp cơ quan nhà nước nâng cao chất lượng xác minh, hạn chế sai sót trong quá trình xử lý vi phạm.
Đối với việc công khai thông tin xử phạt, đại biểu tán thành quy định cập nhật, gỡ bỏ thông tin trong thời hạn 5 ngày làm việc khi quyết định xử phạt được đính chính, sửa đổi, bổ sung hoặc huỷ bỏ. Tuy nhiên, cần bổ sung cơ chế chuyển và đồng bộ dữ liệu tự động giữa các đầu mối công khai thông tin với Cơ sở dữ liệu quốc gia về xử lý vi phạm hành chính.
Theo đại biểu, trong môi trường số, thông tin có thể lan truyền nhanh và để lại hệ luỵ lâu dài. Trường hợp quyết định xử phạt đã bị huỷ bỏ nhưng thông tin cũ vẫn tồn tại trên các trang mạng có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín, thương hiệu và cơ hội hợp tác kinh doanh của doanh nghiệp. Do đó, cơ chế cập nhật, gỡ bỏ cần được thực hiện đồng bộ, kịp thời, hạn chế tình trạng dữ liệu đã thay đổi nhưng thông tin công khai vẫn chưa được điều chỉnh.
Bên cạnh đó, đối với quy định về những hành vi vi phạm phải công bố công khai trên phương tiện thông tin đại chúng, đại biểu đề nghị luật cần xác định khung tiêu chí rõ ràng, cụ thể hoá các khái niệm như “gây hậu quả lớn” hoặc “gây ảnh hưởng xấu đến dư luận xã hội”. Điều này góp phần bảo đảm việc công khai thông tin có căn cứ pháp lý minh bạch, thống nhất, tránh áp dụng tuỳ nghi và hạn chế ảnh hưởng không cần thiết đến tổ chức, cá nhân./.

