Doanh nghiệp đầu mối tạo nguồn Ethanol cho pha chế xăng E10
Để đảm bảo cung ứng xăng sinh học E10 ổn định trên toàn quốc, các thương nhân đầu mối như Petrolimex, PVOIL và doanh nghiệp sản xuất như BSR đã sớm có phương án tạo nguồn Ethanol.

Khách đến đổ xăng E10 tại cửa hàng xăng dầu Petrolimex. Ảnh: Trần Việt - TTXVN
Để đảm bảo cung ứng xăng sinh học E10 ổn định trên toàn quốc, các thương nhân đầu mối như Tập đoàn Xăng Dầu Việt Nam (Petrolimex), Tổng Công ty Dầu Việt Nam (PVOIL) và Tổng Công ty Lọc hóa dầu Việt Nam (BSR) đã sớm có phương án tạo nguồn cồn sinh học Ethanol đáp ứng nhu cầu đầu vào cho pha chế.
*Chủ động phương án tạo nguồn Ethanol
Theo tính toán của Bộ Công Thương, nhu cầu Ethanol nhiên liệu phục vụ pha chế xăng sinh học E10 hiện vào khoảng 92.000 - 100.000 m3/tháng. Trong khi đó, tổng sản lượng Ethanol trong nước hiện nay mới đáp ứng khoảng 25.000 m3/tháng, tương đương khoảng 25-30% nhu cầu Ethanol cho pha chế nên phần còn thiếu sẽ phải nhập khẩu.
Là thương nhân đầu mối có thị phần kinh doanh xăng dầu lớn nhất tại Việt Nam, công tác tạo nguồn Ethanol đã được đưa vào kế hoach sản xuất kinh doanh của Petrolimex từ cuối năm 2025. Theo đó, ngay từ tháng 4/2026, Petrolimex đã tạo nguồn gần 40.000 m3, đưa sẵn về các cảng, điểm pha chế để sẵn sàng phục vụ pha chế xăng E10 và kinh doanh trên toàn hệ thống sớm trước lộ trình cả nước. Với nhu cầu cồn sinh học Ethanol đầu vào để pha chế xăng sinh học E10RON95 của Petrolimex từ 45-50 nghìn m3/tháng trong khi các nhà máy trong nước mới đáp ứng được một phần nhu cầu nên Petrolimex đã chủ động đàm phán các hợp đồng ngắn hạn, dài hạn với các đối tác từ Mỹ, Hàn Quốc, Singapore.

Khách đến đổ xăng E10 tại cửa hàng xăng dầu. Ảnh: A.N/Bnews/vnanet.vn
Tương tự như vậy, PVOIL-đơn vị thành viên của Tập đoàn Công nghiệp-Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) đã ký hợp đồng mua Ethanol từ các công ty sản xuất ở trong nước như: Công ty TNHH MTV Nhà Xanh Việt Nam, Công Ty Cổ Phần Nhiên Liệu Sinh Học Tùng Lâm, Công ty Cổ phần Nhiên liệu sinh học Dung Quất…Bên cạnh đó, PVOIL cũng nhập khẩu Ethanol từ các đối tác Hoa Kỳ, Brazil, thông qua các kho trung chuyển tại Hàn Quốc, Singapore để đáp ứng nhu cầu pha chế xăng E10, Phó Tổng Giám đốc PVOIL Lê Trung Hưng cho biết.
Trong khi đó, BSR-đơn vị thành viên của Petrovietnam cũng đã chủ động tạo nguồn Ethanol cho pha chế xăng E10 tại nhà máy Lọc dầu Dung Quất (Quảng Ngãi). Ông Lê Hải Tuấn- Phó Giám đốc nhà máy Lọc dầu Dung Quất cho biết, Công ty Cổ phần Nhiên liệu sinh học Dầu khí Miền Trung (BSR-BF) đã phục hồi và vận hành ổn định nhà máy Nhiên liệu sinh học Dung Quất, nhờ vậy BSR đã chủ động được nguồn nguyên liệu phối trộn. Hiện Nhà máy đang hoạt động ở mức 75 - 80% công suất; phấn đấu nâng lên khoảng 90% trong tháng 6 và hướng tới vận hành 100% công suất trong các tháng tiếp theo.
Đặc biệt, nguồn Ethanol từ nhà máy Nhiên liệu sinh học Dung Quất được kết nối trực tiếp với hệ thống pha chế và hạ tầng lọc dầu của nhà máy Lọc dầu Dung Quất, hình thành chuỗi giá trị đồng bộ trong sản xuất nhiên liệu sinh học, phối trộn với xăng khoáng nền, tạo ra sản phẩm xăng sinh học E10 đạt chuẩn chất lượng trước khi đưa ra thị trường. Đây cũng là lợi thế nổi bật của chuỗi giá trị tích hợp Petrovietnam, tạo nền tảng để nhiên liệu sinh học E10 được sản xuất ổn định, bảo đảm chất lượng và khả năng cung ứng lâu dài cho thị trường.

Nhà máy Nhiên liệu sinh học Dung Quất là nơi đang sản xuất và cung ứng nguồn ethanol cho BSR phối trộn, kiểm soát chất lượng xăng E10 để đưa ra thị trường. Ảnh: A.N/Bnews/vnanet.vn
*Hài hòa chính sách nhập khẩu và sản xuất trong nước
Với năng lực sản xuất Ethanol trong nước hiện nay, Việt Nam sẽ phải nhập khẩu khoảng 75.000 m3 ethanol mỗi tháng trong ít nhất một vài năm đầu triển khai xăng sinh học E10.
Ông Đỗ Văn Tuấn - Chủ tịch Hiệp hội Nhiên liệu sinh học Việt Nam cho biết thực tế là toàn bộ nhu cầu Ethanol cho pha chế xăng sinh học E10 của Việt Nam trong 1 năm cũng chỉ bằng sản lượng sản xuất Ethanol của Mỹ trong một ngày nên vấn đề về nguồn cung Ethanol nhập khẩu không đáng lo ngại. Bên cạnh đó, việc nhập khẩu Ethanol từ Mỹ còn có lợi thế là tuyến đường vận tải không phụ thuộc vào khu vực Trung Đông. Ngoài ra việc nhập khẩu Ethanol từ Mỹ còn giúp cân bằng cán cân thương mại giữa hai nước.
Tuy vậy, Tiến sĩ Bùi Ngọc Bảo-Chủ tịch Hiệp hội Xăng Dầu Việt Nam cho biết mặc dù việc nhập khẩu Ethanol từ Mỹ khá thuận lợi nhưng quãng đường vận chuyển xa nên để đảm bảo hiệu quả, cần nhập khẩu bằng các tàu chuyên dụng cỡ lớn. Thực tế là các nhà cung cấp Ethanol tại Mỹ thường vận chuyển hàng vào các kho ngoại quan tại Hàn Quốc và Singapore để trung chuyển cho thị trường châu Á.
Vì vậy, để tạo thuận lợi cho việc nhập khẩu Ethanol phục vụ pha chế E10 ổn định, Bộ Công Thương cần nghiên cứu chính sách thuận lợi cho nhà cung cấp nước ngoài đưa hàng sang Việt Nam và được gửi Ethanol ở kho ngoại quan mà không phải mất thuế nhà thầu 1% khi đưa hàng ra khỏi kho ngoại quan như hiện nay. Khi đó, các doanh nghiệp cần Ethanol chỉ cần ra kho ngoại quan lấy nguyên liệu, từ đó giúp giảm chi phí và thời gian vận chuyển Ethanol cho doanh nghiệp, góp phần giảm giá bán xăng E10 cho người tiêu dùng, ông Bùi Ngọc Bảo đề xuất.
Bên cạnh các chính sách tạo thuận lợi cho nhập khẩu Ethanol, với mục tiêu bảo đảm khả năng tự chủ trên 50% nhu cầu Ethanol phối trộn từ nay đến năm 2030, việc có có cơ chế hỗ trợ phát triển sản xuất Ethanol trong nước là rất quan trọng.
Chủ tịch Hiệp hội Nhiên liệu sinh học Việt Nam Đỗ Văn Tuấn cho biết, các nhà máy Ethanol trong nước đang có cơ hội phục hồi nhờ nhu cầu Ethanol phục vụ pha chế khi xăng E10 được kinh doanh trên toàn quốc, thay thế cho xăng khoáng từ ngày 1/6/2026. Từ đó, Việt Nam có thể hình thành hệ sinh thái nông nghiệp phía sau ngành nhiên liệu sinh học.
Tuy nhiên, các nhà máy sản xuất nhiên liệu sinh học trong nước sẽ phải cạnh tranh về giá với nguồn Ethanol nhập khẩu từ thị trường Mỹ. Dù sản lượng tiêu thụ có thể tăng, nhưng hiệu quả tài chính có nguy cơ giảm xuống. Đây là thách thức lớn nhất đối với các doanh nghiệp sản xuất ethanol trong nước hiện nay.
Vì vậy, để có thể tồn tại và cạnh tranh, các nhà máy nhiên liệu sinh học trong nước buộc phải tối ưu hóa hoạt động sản xuất, giảm chi phí, tiết giảm định mức sản xuất, đồng thời nâng cao hiệu quả quản trị trên tất cả các khâu, từ tài chính, sản xuất đến bán hàng. Chỉ khi vận hành đồng bộ và hiệu quả hơn, doanh nghiệp mới có cơ hội cạnh tranh trên thị trường.
Đặc biệt, Nhà nước cần thiết kế chính sách thuế phù hợp trong giai đoạn đầu để bảo vệ sản xuất trong nước ở mức cần thiết, tránh tình trạng bị cạnh tranh bởi nguồn hàng giá rẻ từ bên ngoài, thậm chí là cạnh tranh không lành mạnh, ông Tuấn nhấn mạnh.
Cùng quan điểm này, ông Phạm Văn Tuấn - Giám đốc Công ty TNHHH MTV Nhà Xanh Việt Nam chỉ rõ Việt Nam cần xác định các vùng trồng trọng điểm ngô, sắn, quy hoạch gần các nhà máy Ethanol cũng như có chính sách hỗ trợ thuế thu nhập doanh nghiệp trong 5-10 năm. Đặc biệt, Nhà nước cần tính toán cân bằng giữa lợi ích nhập khẩu trước mắt và sản xuất trong nước lâu dài để có mức thuế nhập khẩu Ethanol hợp lý. Theo đó, nên giữ thuế nhập khẩu Ethanol ở mức 5% như hiện nay để bảo vệ nhà sản xuất trong nước.
Chia sẻ về các giải pháp thúc đẩy sản xuất Ethanol trong nước, ông Đào Duy Anh-Phó Cục trưởng Cục đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công (Bộ Công Thương) cho biết trong trung hạn, Bộ Công Thương đã xây dựng chính sách hỗ trợ doanh nghiệp trong nước về công nghệ để nâng cao công suất sản xuất Ethanol. Về dài hạn, Bộ Công Thương sẽ kiến nghị quy hoạch, mở rộng vùng nguyên liệu trong nước tạo chuỗi cung ứng nguyên liệu đầu vào cho các nhà máy sản xuất Ethanol từ nông dân trồng nguyên liệu ngô, sắn đến doanh nghiệp sản xuất Ethanol và doanh nghiệp pha chế xăng sinh học.
Theo Hiệp hội Nhiên liệu sinh học Việt Nam, hiện cả nước có 6 nhà máy sản xuất Ethanol nhiên liệu với tổng công suất thiết kế khoảng 600 nghìn m³/năm. Nếu vận hành 100% công suất, 6 nhà máy này có thể đáp ứng khoảng 40% nhu cầu pha chế xăng sinh học E10RON95.











