Doanh nghiệp ngành gỗ 'khát' nguyên liệu chất lượng
Doanh nghiệp ngành gỗ cho rằng điểm nghẽn lớn nhất hiện nay không phải công nghệ hay thị trường mà là thiếu nguồn nguyên liệu chất lượng. Tình trạng khai thác rừng non và xuất khẩu dăm gỗ đang làm suy giảm nguồn cung cho chế biến sâu, ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của ngành trong dài hạn.
Doanh nghiệp chế biến sâu "khát" nguyên liệu
Dù ngành gỗ Việt Nam đã xuất khẩu tới hơn 140 quốc gia và vùng lãnh thổ, nhiều doanh nghiệp cho rằng dư địa tăng trưởng của ngành đang bị hạn chế bởi bài toán nguyên liệu.
Ông Phạm Thành Long - Giám đốc thu mua nguyên liệu Công ty TNHH Triệu Thái Sơn cho biết doanh nghiệp hiện vận hành hệ thống nhà máy chế biến sâu với công suất khoảng 15.000 m³ gỗ ép, ván ép mỗi tháng, sử dụng hoàn toàn nguyên liệu trong nước và tạo việc làm cho hơn 1.000 lao động. Năm 2025, doanh nghiệp xuất khẩu hơn 114.000 m³ sản phẩm, tương đương 2.491 container.
Tuy nhiên, theo ông Long, khó khăn lớn nhất hiện nay là thiếu nguồn nguyên liệu ổn định, hợp pháp và đạt chất lượng. Tình trạng khai thác rừng non từ 3-3,5 năm tuổi cùng sự phát triển của các cơ sở thu mua, băm dăm nhỏ lẻ khiến cạnh tranh nguyên liệu ngày càng gay gắt, trong khi các doanh nghiệp đầu tư vào chế biến sâu lại gặp nhiều bất lợi.
Chung quan điểm, ông Nguyễn Tất Sơn - Chủ tịch HĐQT Công ty Lâm nghiệp Tháng Năm (Tập đoàn TH) cho biết doanh nghiệp sở hữu hai nhà máy chế biến gỗ tại Nghệ An với tổng công suất hơn 500.000 m³ thành phẩm mỗi năm, cần khoảng 1 triệu tấn gỗ nguyên liệu để duy trì sản xuất. Dù đã liên kết với khoảng 60.000 hộ trồng rừng và cam kết thu mua với giá cao hơn khoảng 3% so với giá dăm gỗ, doanh nghiệp vẫn gặp khó trong việc bảo đảm nguồn cung do nhu cầu xuất khẩu dăm và viên nén gỗ ngày càng tăng.
Theo ông Sơn, việc xuất khẩu nguyên liệu thô với giá trị gia tăng thấp đang làm giảm nguồn nguyên liệu cho chế biến sâu, ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực cạnh tranh của ngành gỗ Việt Nam.
Kéo dài chu kỳ trồng rừng để tăng giá trị
Các doanh nghiệp đều cho rằng muốn nâng cao giá trị ngành gỗ, trước hết cần thay đổi cách phát triển vùng nguyên liệu. Theo tính toán của Tập đoàn TH, nếu kéo dài chu kỳ khai thác rừng từ 3-4 năm lên 7-8 năm, hiệu quả sinh khối có thể tăng khoảng 2,5 lần, trong khi lợi nhuận của người trồng rừng cao gấp 1,5-2 lần. Không chỉ mang lại giá trị kinh tế cao hơn, gỗ lớn còn đáp ứng tốt hơn yêu cầu của các thị trường xuất khẩu.

Ông Nguyễn Đức Hậu - Chi hội phó Chi hội Viên nén gỗ.
Ông Nguyễn Đức Hậu - Chi hội phó Chi hội Viên nén gỗ cho biết việc khai thác rừng quá sớm khiến gỗ có tỷ trọng thấp, hàm lượng nước cao, làm giảm hiệu suất sản xuất viên nén và tăng chi phí chế biến.
Đáng chú ý, gỗ non thường có hàm lượng Natri (Na) và Kali (K) cao hơn do cây chưa hoàn tất quá trình sinh trưởng. Đây là hai chỉ tiêu được các thị trường như Nhật Bản và Hàn Quốc kiểm soát chặt chẽ vì có thể gây đóng xỉ, làm giảm tuổi thọ lò hơi tại các nhà máy điện sử dụng viên nén gỗ.
Theo ông Hậu, kéo dài chu kỳ khai thác không chỉ giúp tăng trữ lượng rừng mà còn nâng cao chất lượng nguyên liệu, qua đó cải thiện năng lực cạnh tranh của viên nén và các sản phẩm gỗ Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Từ thực tế hoạt động, các doanh nghiệp kiến nghị cơ quan quản lý rà soát hoạt động của các cơ sở thu mua, chế biến dăm gỗ; kiểm soát chặt nguồn gốc nguyên liệu và nghiên cứu chính sách điều tiết xuất khẩu dăm gỗ nhằm ưu tiên nguồn cung cho chế biến sâu.
Bên cạnh đó, cần có chính sách khuyến khích người dân kéo dài chu kỳ trồng rừng thông qua hợp đồng bao tiêu, hỗ trợ giống, kỹ thuật, bảo hiểm và phát triển chứng chỉ quản lý rừng bền vững FSC, PEFC.
Các doanh nghiệp cũng đề xuất quy hoạch vùng nguyên liệu gắn với nhu cầu của các nhà máy chế biến, đồng thời đẩy mạnh chuyển đổi số và truy xuất nguồn gốc để đáp ứng yêu cầu ngày càng khắt khe của các thị trường như EU, Mỹ và Nhật Bản.
Theo ông Nguyễn Tất Sơn, ngành lâm nghiệp cần chuyển từ tư duy cung cấp sinh khối sang phát triển vật liệu xanh và các sản phẩm có giá trị gia tăng cao. Muốn làm được điều đó, cần xây dựng chuỗi liên kết chặt chẽ từ người trồng rừng, doanh nghiệp chế biến đến nhà nhập khẩu, đồng thời tạo cơ chế điều tiết hài hòa giữa các phân ngành để bảo đảm nguồn nguyên liệu ổn định cho chế biến sâu.
Ông Nguyễn Văn Diện - Phó Cục trưởng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho rằng, nguồn nguyên liệu trong tương lai cần đáp ứng đồng thời các yêu cầu về tính hợp pháp, khả năng truy xuất nguồn gốc, không gây mất rừng, có chứng chỉ quản lý rừng bền vững và phát thải carbon thấp. Đây sẽ là nền tảng để ngành gỗ Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm sẽ tập trung phát triển vùng nguyên liệu gỗ lớn, mở rộng diện tích rừng được cấp chứng chỉ quản lý bền vững, xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc số hóa, thúc đẩy liên kết giữa chủ rừng với doanh nghiệp chế biến, hoàn thiện cơ chế về tín dụng, bảo hiểm rừng, thị trường tín chỉ carbon và tăng cường sử dụng nguồn nguyên liệu hợp pháp trong nước.











