Doanh nghiệp vật liệu Việt bước vào cuộc đua tuần hoàn và làm chủ công nghệ
Ngành xây dựng Việt Nam đang đứng trước sức ép kép: một mặt phải giảm phát thải để đáp ứng cam kết Netzero, mặt khác phải giải bài toán thiếu hụt tài nguyên và chi phí vật liệu ngày càng tăng. Trong bối cảnh đó, mô hình sản xuất vật liệu xây dựng (VLXD) xanh theo hướng kinh tế tuần hoàn không còn là khẩu hiệu, mà trở thành 'đường sống' của nhiều DN.

Giảm phát thải, tiết kiệm tài nguyên và kiểm soát chi phí đang buộc ngành vật liệu xây dựng (VLXD) Việt Nam bước vào một cuộc chuyển dịch không thể trì hoãn.
Giảm phát thải từ "lõi"
Nếu trước đây, vật liệu xanh thường được hiểu đơn giản là “vật liệu mới, thân thiện môi trường”, thì hiện nay khái niệm này đã được mở rộng thành một chuỗi giá trị: từ nguồn nguyên liệu đầu vào, quy trình sản xuất, phát thải carbon, đến khả năng tái chế – tái sử dụng sau vòng đời công trình.
Theo thạc sĩ Kiều Văn Mát – Chủ tịch HĐQT Công ty CP Sông Đà Cao Cường, ngành xây dựng là một trong những lĩnh vực phát thải khí nhà kính lớn trên toàn cầu, với tổng lượng phát thải chiếm tới 39% trong giai đoạn 2018 – 2023, trong đó 28% đến từ sản xuất VLXD và 11% đến từ năng lượng sử dụng trong các tòa nhà. Ở Việt Nam, ngành xây dựng đóng góp khoảng 24% tổng lượng khí nhà kính cả nước.
Đáng chú ý, số liệu do Bộ Xây dựng công bố được trích dẫn trong tài liệu cho thấy, phát thải carbon trong lĩnh vực sản xuất VLXD đã tăng mạnh: từ khoảng 59,91 triệu tấn carbon năm 2014 lên 101,89 triệu tấn carbon năm 2022. Riêng ngành xi măng phát thải lớn nhất với 91,93 triệu tấn carbon; tiếp theo là sản xuất gạch xây 4,22 triệu tấn carbon và vôi công nghiệp 2,9 triệu tấn carbon.
Những con số này lý giải vì sao mục tiêu giảm phát thải không thể chỉ dừng ở “tiết kiệm điện trong tòa nhà”, mà buộc phải đi thẳng vào “lõi” của ngành: đổi mới công nghệ sản xuất vật liệu. Trong bối cảnh Việt Nam nâng mức cam kết giảm phát thải khí nhà kính từ 9% lên 15,8% (tương đương 146,3 triệu tấn carbon) và theo Nghị định 06/2022/NĐ-CP, ngành xây dựng có nhiệm vụ giảm 74,3 triệu tấn carbon đến năm 2030, kinh tế tuần hoàn được xem là hướng đi tất yếu.
Lãnh đạo Công ty CP Sông Đà Cao Cường chia sẻ, nói đến tuần hoàn trong VLXD không chỉ là “tái chế”, mà là tổ chức lại toàn bộ quy trình sản xuất để hạn chế chất thải và biến chất thải thành nguyên liệu đầu vào. Với Sông Đà Cao Cường, mô hình này được mô tả khá rõ, từ xử lý tro xỉ nhiệt điện, xử lý phosphogypsum (thạch cao thải) của nhà máy phân bón hóa chất, đến việc phát triển chuỗi sản phẩm VLXD mới như tro bay chất lượng cao, thạch cao nhân tạo, gạch nhẹ chưng áp AAC, tấm ALC, vữa khô trộn sẵn, keo dán gạch đá…
Song, bài toán lớn nhất với VLXD xanh ở Việt Nam không chỉ nằm ở công nghệ sản xuất, mà nằm ở thị trường và hệ sinh thái tiêu chuẩn. Ông Kiều Văn Mát kiến nghị, nhà nước tiếp tục ban hành cơ chế thúc đẩy sản xuất – ứng dụng VLXD xanh; đẩy mạnh truyền thông để thay đổi thói quen tiêu dùng; hoàn thiện tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và định mức kinh tế kỹ thuật; đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận tín dụng xanh, vốn ưu đãi cho R&D và triển khai thực tế.
Cuộc đua đổi mới sáng tạo không còn đường lùi
Nếu tro xỉ nhiệt điện hay thạch cao thải là “chất thải công nghiệp”, thì phế thải xây dựng lại là “bài toán đô thị” gắn trực tiếp với tốc độ phát triển hạ tầng, chỉnh trang và phá dỡ công trình cũ. Theo ông Nguyễn Quang Vinh - Chủ tịch HĐQT Công ty CP Tư vấn - Xây dựng & Đầu tư Quang Nguyễn, ngành xây dựng hiện đối mặt đồng thời ba bài toán lớn. trong đó gồm môi trường (phế thải xây dựng phát sinh ngày càng lớn), tài nguyên (đất sét, cát, đá dần cạn kiệt), và chi phí – phát thải (vật liệu truyền thống tiêu tốn năng lượng và phát thải CO2 lớn).
"Phế thải xây dựng vốn bị xem là “rác”, liệu có thể trở thành nguyên liệu đầu vào cho VLXD bền vững hay không? Câu trả lời là “hoàn toàn có thể” nếu có cách tiếp cận đúng và công nghệ phù hợp" - ông Vinh cho hay.
Từ góc nhìn thực tiễn, ông Vinh chia sẻ thêm, phế thải xây dựng phát sinh từ tháo dỡ nhà ở, thi công hạ tầng – khu đô thị, cải tạo nâng cấp công trình. Thành phần đa dạng gồm bê tông vụn, gạch vỡ, vữa, thạch cao, đất đá, cốt thép và kim loại. Nếu không xử lý đúng cách, phế thải sẽ chiếm diện tích bãi chôn lấp, gây bụi, ô nhiễm nước và lãng phí tài nguyên đã qua sử dụng.
Ở nhiều nước, tái chế phế thải xây dựng đã trở thành “chuẩn bắt buộc”. Câu Âu đạt tỷ lệ tái chế 70 – 90%; Nhật Bản và Hàn Quốc coi phế thải xây dựng là nguồn vật liệu tái sinh bắt buộc; Trung Quốc phát triển mạnh gạch không nung từ bê tông tái chế và xỉ công nghiệp. Trong bối cảnh đó, gạch không nung từ phế thải xây dựng được xem như một giải pháp vật liệu xanh, vừa giảm khai thác đất sét, cát, đá tự nhiên, vừa giảm lượng phế thải phải chôn lấp.
Đáng nói, lợi ích không chỉ nằm ở môi trường mà còn ở kinh tế, nguyên liệu đầu vào rẻ hơn, giảm chi phí sản xuất, chủ động nguồn cung tại địa phương có thể giảm 15 – 30%, đồng thời tạo việc làm trong lĩnh vực tái chế và góp phần thay đổi tư duy “xây dựng – phá bỏ – chôn lấp” sang “tái sinh – tuần hoàn”.
Tuy nhiên, tái chế phế thải xây dựng ở Việt Nam vẫn vướng những “nút thắt” quen thuộc: nhận thức thị trường chưa đồng đều, chủ đầu tư e ngại vật liệu mới, hệ thống thu gom – phân loại chưa đồng bộ, tiêu chuẩn – quy chuẩn kỹ thuật cần hoàn thiện. Đây là lý do doanh nghiệp kiến nghị tăng chính sách khuyến khích vật liệu tái chế, đưa gạch không nung từ phế thải vào danh mục ưu tiên và kết nối doanh nghiệp – hiệp hội – cơ quan quản lý.
Nếu câu chuyện phế thải xây dựng đại diện cho “đầu vào tuần hoàn”, thì ở một hướng khác, đổi mới sáng tạo trong VLXD Việt còn thể hiện ở tham vọng bước vào phân khúc cao cấp và tạo chuẩn mới. Đại diện Công ty CP Trung Đô chia sẻ, khi nhìn lại chặng đường phát triển của VLXD Việt Nam trong hơn hai thập kỷ qua, có thể khẳng định rằng: ngành VLXD Việt Nam đã phát triển rất nhanh, đóng góp rất lớn vào sự phát triển chung nền kinh tế nước nhà, từng bước tiếp cận, làm chủ và nội địa hóa nhiều công nghệ tiên tiến của thế giới.
Sử dụng cách tiếp cận “làm chủ công nghệ” thay vì chỉ “mua dây chuyền”: làm chủ phối liệu từ nguyên liệu nội địa; kiểm soát ép – nung bằng hệ thống đo kiểm như máy X-quang; gắn công nghệ bề mặt với thân vật liệu; và tối ưu hóa để vật liệu không chỉ đẹp trong nhà máy mà còn ổn định khi gia công, lắp đặt tại công trường và xưởng chế tác.
Các chuyên gia trong ngành nhìn nhận, nếu VLXD xanh chỉ dừng ở phân khúc phổ thông, Việt Nam sẽ khó thoát khỏi vòng lặp “sản xuất nhiều – biên lợi nhuận mỏng”. Nhưng khi DN bắt đầu làm chủ công nghệ vật liệu ở phân khúc cao, câu chuyện ngành sẽ chuyển sang một mặt trận mới: giá trị gia tăng, thương hiệu và tiêu chuẩn.
Với sự đồng thuận và hỗ trợ từ các chính sách của Chính phủ, sự vào cuộc của các cấp Bộ, ngành cũng như công tác truyền thông nâng cao nhận thức của cộng đồng về sử dụng VLXD xanh và lợi ích của sản phẩm mang lại sẽ thay đổi thói quen trong việc sử dụng VLXD với chủ đầu tư nói riêng và người tiêu dùng nói chung. Bài toán môi trường, việc làm và sự hữu ích của sản phẩm sẽ mang đến một môi trường xanh, sạch và hướng tới hoàn thành mục tiêu Netzero vào năm 2050.
Thạc sĩ Kiều Văn Mát – Chủ tịch HĐQT Công ty CP Sông Đà Cao Cường











