Doanh nghiệp Việt trước sức ép phòng vệ thương mại

Xuất khẩu ngày càng mở rộng đưa hàng hóa Việt Nam hiện diện sâu hơn tại các thị trường quốc tế, nhưng đồng thời cũng kéo theo nguy cơ gia tăng các vụ việc phòng vệ thương mại (PVTM). Vì vậy, chủ động quản trị rủi ro cần trở thành một phần trong chiến lược sản xuất, kinh doanh và xuất khẩu, giúp doanh nghiệp (DN) bảo vệ thị trường, duy trì sức cạnh tranh và củng cố vị thế trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

DN cần đưa quản trị rủi ro PVTM vào ngay trong kế hoạch sản xuất, kinh doanh và xuất khẩu. Ảnh: daibieunhandan.vn

DN cần đưa quản trị rủi ro PVTM vào ngay trong kế hoạch sản xuất, kinh doanh và xuất khẩu. Ảnh: daibieunhandan.vn

Gia tăng kiện phòng vệ thương mại

Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng đã mở rộng đáng kể không gian xuất khẩu, đưa Việt Nam vào nhóm 15 nền kinh tế có quy mô thương mại lớn nhất toàn cầu. Song, cùng với sự gia tăng về quy mô và thị phần xuất khẩu, hàng hóa Việt Nam cũng phải đối mặt ngày càng nhiều với các biện pháp PVTM tại các thị trường nhập khẩu.

Theo Cục PVTM (Bộ Công Thương), trong 9 tháng năm 2026, hàng hóa Việt Nam phải đối mặt với 27 vụ kiện PVTM, nhiều hơn 4 vụ so với tổng số vụ việc của cả năm 2025. Đáng chú ý, rủi ro PVTM không chỉ gia tăng về số lượng mà còn đa dạng hơn về hình thức. Bên cạnh các cuộc điều tra chống bán phá giá, chống trợ cấp, các biện pháp chống lẩn tránh và chống gian lận xuất xứ ngày càng được sử dụng nhiều.

Thực tế một số vụ việc gần đây cho thấy, tác động của PVTM không chỉ xuất hiện khi một cuộc điều tra được khởi xướng mà có thể kéo dài trong nhiều năm, đồng thời tạo thêm áp lực chi phí và yêu cầu DN phải liên tục duy trì năng lực đáp ứng.

Đơn cử, ngày 03/7/2026, Bộ Thương mại Thổ Nhĩ Kỳ khởi xướng rà soát cuối kỳ biện pháp chống bán phá giá đối với một số sản phẩm ống thép hàn không gỉ có xuất xứ từ Việt Nam. Các sản phẩm này đang chịu mức thuế từ 19,64% đến 25% theo giá giao tại cảng đến của nước nhập khẩu (CIF) và mức thuế tiếp tục được duy trì cho đến khi có kết luận cuối cùng.

Tại Canada, từ ngày 31/7/2026, một số sản phẩm tủ gỗ và tủ lavabo nhập khẩu chịu biện pháp tự vệ tạm thời dưới hình thức thuế bổ sung 25%, có hiệu lực tối đa 200 ngày. Việt Nam không thuộc danh sách miễn trừ, do đó, hàng hóa có xuất xứ Việt Nam thuộc phạm vi điều chỉnh phải chịu khoản thuế này…

Theo ông Chu Thắng Trung - Phó Cục trưởng Cục PVTM (Bộ Công Thương), nguy cơ hàng hóa Việt Nam tiếp tục phải đối mặt với các vụ điều tra vẫn ở mức cao. Một trong những nguyên nhân là chính sách thương mại của các nền kinh tế lớn đang thay đổi theo hướng tăng cường bảo vệ ngành sản xuất trong nước, trong khi kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam liên tục tăng. Đây là xu hướng thường thấy đối với các nền kinh tế có độ mở lớn, khi quy mô xuất khẩu càng tăng thì khả năng phát sinh các vụ việc PVTM càng lớn.

Không chỉ vậy, sự dịch chuyển và tái cơ cấu của chuỗi cung ứng toàn cầu đang làm thay đổi cách các thị trường nhập khẩu nhìn nhận rủi ro đối với hàng hóa. Xuất xứ, nguồn gốc nguyên liệu, tỷ lệ giá trị gia tăng nội địa và tính minh bạch của chuỗi cung ứng ngày càng được quan tâm. Vì vậy, sức ép đối với DN không còn chỉ nằm ở khả năng bị điều tra về giá hay trợ cấp, mà ngày càng gắn với năng lực chứng minh nguồn gốc và tính minh bạch của toàn bộ chuỗi sản xuất, cung ứng.

Từ góc độ DN, bà Lê Hằng - Phó Tổng Thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) - chia sẻ, tham gia sâu hơn vào sân chơi thương mại toàn cầu cũng đồng nghĩa DN phải chuẩn bị cho những tình huống không mong đợi. Tuy nhiên, qua thực tiễn ứng phó với các vụ kiện chống bán phá giá kéo dài nhiều năm, DN thủy sản đã dần thay đổi cách tiếp cận. Thay vì coi mỗi vụ kiện là một cú sốc, DN đã nhìn nhận đây là một phần của “cuộc chơi” thương mại quốc tế và chủ động hơn trong ứng phó.

Theo Cục PVTM, Bộ Công Thương, tính đến giữa tháng 9/2026, hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam đối mặt với 327 vụ việc điều tra PVTM tại 27 thị trường.

Cục PVTM sẽ tiếp tục nâng cao hiệu quả hệ thống cảnh báo sớm trên cơ sở theo dõi diễn biến xuất khẩu của từng mặt hàng, từng thị trường, qua đó kịp thời cung cấp thông tin để DN chuẩn bị trước khi vụ việc phát sinh. Cùng với đó là tăng cường tập huấn, nâng cao năng lực quản trị dữ liệu, quản trị chi phí và tuân thủ pháp luật trong các vụ điều tra PVTM; phối hợp với hiệp hội ngành hàng và địa phương hướng dẫn DN về xuất xứ hàng hóa, truy xuất nguồn gốc, minh bạch chuỗi cung ứng, kiểm soát gian lận xuất xứ và chuyển tải bất hợp pháp…

Chuyển từ ứng phó sang quản trị rủi ro

Giới chuyên gia nhìn nhận, dù các vụ việc PVTM ngày càng phổ biến, tác động của mỗi vụ việc vẫn có thể tạo ra sức ép lớn và nhiều chiều đối với DN. Khi bị điều tra hoặc chịu mức thuế cao, lợi thế cạnh tranh có thể suy giảm, thậm chí DN có nguy cơ mất một phần hoặc toàn bộ thị trường xuất khẩu. Chưa kể, DN còn phải dành nguồn lực đáng kể cho chi phí pháp lý, nhân sự và nguồn lực thu thập, cung cấp hồ sơ, dữ liệu theo yêu cầu của cơ quan điều tra nước ngoài.

Sức ép này không dừng ở một DN mà có thể lan dọc chuỗi cung ứng, từ nhà sản xuất, nhà phân phối đến người tiêu dùng. Khi một thị trường xuất khẩu bị thu hẹp, những lợi thế từ các hiệp định thương mại tự do cũng khó phát huy đầy đủ, đồng thời tác động đến hoạt động sản xuất trong nước.

Trong bối cảnh các vụ việc PVTM có xu hướng gia tăng, các chuyên gia cho rằng cách tiếp cận của DN cũng cần thay đổi: Từ ứng phó khi vụ việc xảy ra sang chủ động quản trị rủi ro từ trước đó. Năng lực PVTM không nên chỉ được kích hoạt khi nhận thông báo điều tra mà cần trở thành một bộ phận của quản trị sản xuất, kinh doanh và xuất khẩu.

Theo đó, DN cần đưa quản trị rủi ro PVTM vào ngay trong kế hoạch sản xuất, kinh doanh và xuất khẩu; kiểm soát chặt nguồn nguyên liệu, nâng tỷ lệ nội địa hóa và mở rộng các công đoạn tạo giá trị gia tăng tại Việt Nam. Cùng với đó, việc lưu giữ nhất quán hồ sơ về chi phí, doanh thu, giao dịch xuất khẩu và các dữ liệu liên quan cần được coi là một phần của hệ thống quản trị. Bởi khi một thị trường tiến hành điều tra, những thông tin về sản xuất, chi phí, giá thành, nguồn nguyên liệu, xuất xứ… sẽ trở thành căn cứ quan trọng để DN giải trình và bảo vệ quyền lợi. Việc số hóa dữ liệu và truy xuất nguồn gốc cũng giúp DN nhanh chóng đáp ứng yêu cầu cung cấp thông tin, qua đó chủ động hơn trong quá trình ứng phó.

Không chỉ dừng ở từng DN, quản trị rủi ro PVTM cần được mở rộng ở cấp ngành hàng. Với những ngành có nguy cơ cao, việc xây dựng bản đồ chuỗi cung ứng, xác định nguồn nguyên liệu, công suất sản xuất trong nước, các nhà nhập khẩu và phân phối lớn, lượng tồn kho, diễn biến giá cũng như khả năng hàng nhập khẩu thay thế sản phẩm trong nước sẽ giúp nhận diện sớm những biến động bất thường, chủ động hơn trước khi phát sinh vụ việc PVTM.

Có thể thấy, khi xuất khẩu tiếp tục mở rộng và hàng hóa Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu, PVTM cần được tính đến ngay từ quá trình tổ chức sản xuất, quản trị chuỗi cung ứng và lựa chọn thị trường. Chuyển từ thế bị động ứng phó sang chủ động quản trị rủi ro sẽ giúp DN có thêm dư địa bảo vệ thị trường, giảm thiểu tổn thất khi vụ việc phát sinh và củng cố khả năng cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam trên thị trường quốc tế./.

TUẤN MINH

Nguồn Kiểm Toán: https://baokiemtoan.vn/vi/bai-viet/doanh-nghiep-viet-truoc-suc-ep-phong-ve-thuong-mai