Doanh nhân đảng viên: Bình đẳng trong kinh doanh, nêu gương về trách nhiệm

Đổi mới quy định về đảng viên làm kinh tế tư nhân cần hướng tới giải phóng nguồn lực phát triển, bảo đảm quyền kinh doanh bình đẳng, đồng thời ngăn ngừa việc lợi dụng quyền lực công để trục lợi cá nhân. Đây là khẳng định của TS. Nguyễn Quốc Việt - chuyên gia chính sách công, Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội, nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh tế và chính sách (VEPR) khi trả lời phỏng vấn của Báo Tài chính - Đầu tư.

PV: Thưa ông, việc nhìn nhận lại vai trò của đảng viên trong khu vực kinh tế tư nhân có ý nghĩa như thế nào đối với cải cách thể chế và phát huy nguồn lực phát triển?

TS. Nguyễn Quốc Việt

TS. Nguyễn Quốc Việt

TS. Nguyễn Quốc Việt: Theo tôi, đây trước hết là một bước điều chỉnh thể chế để giải phóng nguồn lực phát triển.

Trong giai đoạn trước, vấn đề đảng viên làm kinh tế tư nhân thường được nhìn nhiều từ góc độ quản lý, kiểm soát và phòng ngừa rủi ro. Trong giai đoạn phát triển mới, khi kinh tế tư nhân được xác định là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và năng lực doanh nghiệp trở thành những động lực mới, thì cách nhìn ấy cần được thay đổi.

Trong Thông báo số 175-TB/VPTW ngày 18/9/2026 của Văn phòng Trung ương Đảng thông báo kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nêu: đối với đảng viên ngoài khu vực công, cần tạo điều kiện khởi nghiệp, đầu tư, quản lý, điều hành và hành nghề hợp pháp; không tạo thêm thủ tục xin phép chỉ vì người đó là đảng viên; nghĩa vụ báo cáo về Đảng cũng không nên trùng lặp với nghĩa vụ của doanh nghiệp.

Điều này có ý nghĩa rất lớn về mặt thể chế. Nó xác lập một nguyên tắc rất rõ: đảng viên không phải là một “loại hình doanh nghiệp” và tư cách đảng viên không thể trở thành một giấy phép kinh doanh đặc biệt.

Nhưng mặt thứ hai cũng quan trọng không kém: quyền kinh doanh được mở rộng không đồng nghĩa với việc quyền lực công được tư nhân hóa. Ai đang nắm quyền quyết định chính sách, cấp phép, phân bổ nguồn lực, thanh tra, kiểm tra… thì phải chịu cơ chế kiểm soát tương ứng.

Vì vậy, đây không chỉ là câu chuyện về quyền của đảng viên; sâu hơn, đây là câu chuyện về một Nhà nước hiện đại biết giải phóng năng lực của xã hội, nhưng đồng thời kiểm soát quyền lực công.

Sản xuất sản phẩm trà thảo dược tại Công ty Thái Hưng - doanh nghiệp do doanh nhân là đảng viên làm chủ. Ảnh: Thiện An

Sản xuất sản phẩm trà thảo dược tại Công ty Thái Hưng - doanh nghiệp do doanh nhân là đảng viên làm chủ. Ảnh: Thiện An

PV: Theo ông, với doanh nhân là đảng viên thì chuẩn mực “làm giàu chính đáng” cao hơn doanh nhân thông thường ở những điểm nào và điểm khác biệt căn bản nhất về chuẩn mực ứng xử của doanh nhân đảng viên là gì?

TS. Nguyễn Quốc Việt: Tôi nghĩ cần tránh cách hiểu rằng, doanh nhân đảng viên phải chịu một hệ thống pháp luật kinh doanh khác. Cái “cao hơn” nằm ở chuẩn mực ứng xử và trách nhiệm nêu gương, chứ không phải ở việc phải chịu thêm một tầng giấy phép.

Có thể nhìn ở bốn điểm.

Thứ nhất là liêm chính: lợi nhuận phải đến từ năng lực quản trị, công nghệ, sáng tạo, tổ chức sản xuất và cạnh tranh lành mạnh, chứ không đến từ quan hệ chính trị hay khả năng tác động chính sách.

Thứ hai là thượng tôn pháp luật: thuế, lao động, bảo hiểm, môi trường, chất lượng hàng hóa, cạnh tranh… phải thực hiện thực chất.

Thứ ba là trách nhiệm đối với người lao động và xã hội. Doanh nghiệp tốt không chỉ tạo ra lợi nhuận cho chủ sở hữu, mà còn tạo việc làm tốt, thu nhập tốt, môi trường lao động tử tế và sản phẩm có ích.

Thứ tư, quan trọng nhất, là không sử dụng tư cách đảng viên để tạo lợi thế thị trường hoặc làm “lá chắn” khi vi phạm.

Doanh nhân trong giai đoạn mới phải tạo ra năng lực quốc gia. Đó là năng lực công nghệ, là R&D, là đội ngũ kỹ sư và nhân lực chất lượng cao, là thương hiệu Việt, là năng lực tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu và khả năng biến tài nguyên, dữ liệu, tri thức và công nghệ thành giá trị gia tăng giữ lại ở Việt Nam.

Doanh nhân đảng viên không cần chứng minh mình yêu nước bằng những tuyên bố lớn. Cách thuyết phục nhất là chứng minh bằng chất lượng doanh nghiệp, bằng tiền thuế đóng cho Nhà nước, bằng việc làm tạo ra, bằng công nghệ đưa vào sản xuất và bằng việc không kiếm lợi từ đặc quyền.

Tôi cho rằng, điểm khác biệt căn bản nhất về chuẩn mực ứng xử của doanh nhân đảng viên là bình đẳng về quyền kinh doanh, nhưng cao hơn về trách nhiệm nêu gương; và càng có quyền lực công thì càng phải chịu kiểm soát chặt chẽ.

Một doanh nhân đảng viên không được nói rằng “vì tôi là đảng viên nên tôi có quyền ưu tiên”. Ngược lại, xã hội có quyền kỳ vọng rằng người đó phải minh bạch hơn, tuân thủ pháp luật hơn và có trách nhiệm xã hội cao hơn.

Không chỉ nhìn vào “đảng viên hay không”, mà phải nhìn vào “đảng viên đang giữ quyền gì”.

Một đảng viên làm doanh nghiệp bình thường trong khu vực tư nhân và một cán bộ đang có quyền cấp phép, phân bổ đất đai, vốn, dự án hay thanh tra doanh nghiệp không thể chịu cùng một mức độ kiểm soát.

PV: Một vấn đề quan trọng trong chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại cuộc làm việc về đề án xây dựng quy định mới về đảng viên làm kinh tế tư nhân ngày 14/9 vừa qua là yêu cầu về việc phòng ngừa xung đột lợi ích công và tư. Theo ông, làm thế nào để phân định rõ quyền lực công và lợi ích tư khi người đảng viên giữ chức vụ, quyền hạn tham gia điều hành doanh nghiệp?

TS. Nguyễn Quốc Việt: Theo tôi, đây là phần khó nhất và cũng là phần có ý nghĩa quyết định tới chất lượng của chính sách mới.

Không thể giải quyết xung đột lợi ích bằng cách cấm tất cả, nhưng cũng không thể giải quyết bằng cách tin rằng ai cũng tự kiểm soát được mình. Cách tiếp cận hiện đại là nhận diện xung đột lợi ích trước khi nó biến thành hành vi sai phạm.

Thứ nhất, ai là người sở hữu thật sự. Thứ hai, ai là người chi phối hoặc điều hành thật sự. Thứ ba, ai là người hưởng lợi thật sự, kể cả qua quan hệ gián tiếp. Thứ tư, quyền lực công nào có khả năng tác động tới lợi ích đó. Đây cũng là tinh thần rất đáng chú ý trong kết luận mới của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm. Sau đó mới đến các công cụ như công khai lợi ích liên quan, rút lui khỏi quyết định, không tham gia xử lý hồ sơ liên quan, kiểm tra giao dịch liên quan và kiểm soát cả việc điều hành thông qua người khác.

PV: Vậy theo ông, cần cơ chế nào để kiểm soát “sân sau”, ngăn ngừa xung đột lợi ích công - tư, mà vẫn bảo đảm quyền kinh doanh chính đáng của đảng viên?

TS. Nguyễn Quốc Việt: Tôi xin nhấn mạnh một nguyên tắc: Không kiểm soát bằng thêm giấy phép; kiểm soát bằng dữ liệu, minh bạch và quản trị rủi ro. Đây là điểm tôi nghĩ rất phù hợp với tư duy cải cách thể chế hiện nay.

Với đảng viên hoạt động ngoài khu vực công, không nên có một giấy phép kinh doanh riêng chỉ vì họ là đảng viên. Nhưng thay vì “tiền kiểm” bằng thủ tục, chúng ta có thể dùng:

Một là, dữ liệu liên thông giữa đăng ký doanh nghiệp, thuế, đấu thầu, đất đai, tài sản, sở hữu và người hưởng lợi.

Hai là, cơ chế rút lui bắt buộc khi cán bộ có lợi ích trực tiếp hoặc lợi ích liên quan.

Ba là, hậu kiểm dựa trên rủi ro thay vì thanh tra tràn lan.

Bốn là, xử lý nghiêm hành vi che giấu sở hữu thật, tác động chính sách, chuyển lợi ích công thành lợi ích tư.

Năm là, đối với những lĩnh vực ưu tiên, có thể mở có điều kiện và có giám sát, với bốn điều kiện: lợi ích phát triển phải rõ; đối tượng được tham gia phải rõ; giới hạn hoạt động phải rõ; và cơ chế giám sát, đánh giá phải rõ.

Đây là điểm Việt Nam có thể liên hệ với Singapore: với các vị trí nhạy cảm, Singapore còn sử dụng những công cụ như luân chuyển vị trí và nghỉ bắt buộc ở một số chức danh có rủi ro tham nhũng cao như rút lui khỏi các hội đồng tham gia các quyết định đầu tư, không tham gia xử lý hồ sơ thầu, dùng số hóa, minh bạch hóa thông tin để kiểm tra các giao dịch nội gián và giao dịch có liên quan…

Như vậy, mục tiêu không phải là làm cho doanh nhân sợ kinh doanh; mục tiêu là làm cho người có quyền lực công không thể biến quyền lực công thành lợi thế kinh doanh riêng.

PV: Xin cảm ơn ông!

Hà My

Nguồn Thời báo Tài chính: https://thoibaotaichinhvietnam.vn/doanh-nhan-dang-vien-binh-dang-trong-kinh-doanh-neu-guong-ve-trach-nhiem-205319-205319.html