Đọc 'Trăn trở' của Nguyễn Ngọc Trản

Trong cuộc sống, có bao người giấu kín thơ mình không cho ai biết nên bản thảo của họ cứ mai một dần theo năm tháng. Anh Nguyễn Ngọc Trản cũng vậy. Bà con Thanh Khê, xã Thanh Trạch, tỉnh Quảng Bình (cũ), nay là xã Bắc Trạch, tỉnh Quảng Trị, chỉ biết Mai Văn Hoan, Nguyễn Hữu Quý, Cảnh Giang, ít ai ngờ Nguyễn Ngọc Trản làm thơ...

Lần dở từng trang Trăn trở (Nhà xuất bản Thuận Hóa, 2025), tôi đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Hóa ra cũng như tôi, anh Trản tập làm thơ từ rất sớm. Có điều thơ tôi thời đó vụng về, non nớt; còn thơ anh vần điệu, ý tứ khá chỉn chu. Đang học phổ thông mà anh đã có những bài thơ tình rất đỗi ngọt ngào.

Tôi đặc biệt yêu thích bài Biết mai sau thế nào?. Cái chi tiết: Khi thầy kiểm tra bài, anh không thuộc, được cô bạn ngồi cạnh bấm chân nhắc giùm, không may bị các bạn trong lớp phát hiện, khiến cô nàng bật khóc vì thẹn thùng, thật dễ thương. Đúng là tình yêu của tuổi học trò. Tan học, cô nàng tế nhị hái tặng anh bông hoa dâm bụt với ngụ ý “Bụt hiền nên em thương”.

Không những thế, cô còn mạnh dạn hò hẹn: Níu xắc chỉ mặt trời/Em chết đói đến nơi/Mai đến đó anh nhé!/Miệng em cười rất tươi. “Đến đó” là đến chỗ nào chỉ có hai anh chị biết. Bài thơ đã ghi lại một khoảnh khắc đáng nhớ. Bây giờ nếu hai mái tóc bạc có dịp ngồi cạnh nhau cùng đọc bài thơ này chắc là không nhịn được cười.

Thời đó mà anh Nguyễn Ngọc Trản đã băn khoăn, đã trăn trở: Ngắm bông hoa dâm bụt/Cõi lòng anh nao nao/Nhiều ngã ba, ngã bảy/Biết mai sau thế nào?. Nhìn cặp bướm cặp kè bay lượn trong vườn, anh ao ước: Giá được tự do như đôi bướm/Ta nguyện cùng nhau mãi thủy chung! (Đôi bướm). Đang học phổ thông mà viết được những câu thơ giàu sức liên tưởng như vậy quả thật đáng nể.

Đọc mảng thơ anh Nguyễn Ngọc Trản viết về đất nước, quê hương, gia đình tôi càng ngạc nhiên hơn. Mấy năm gần đây, tôi về quê an hưởng tuổi già: “Buổi sáng ra tắm biển/Buổi chiều về ngắm sông/Thư thả ngồi hóng chuyện/Với cụ bà cụ ông”. Những cụ bà, cụ ông thường ngồi chuyện trò, tâm sự phần lớn là những người bạn thời thơ ấu.

Thời đó, chúng tôi chơi đủ trò: Trọi vụ, đánh khăng, nhảy cò cò, ù mọi, rủ nhau ra cảng Gianh bơi lội và chơi trò đánh du kích. Anh Nguyễn Ngọc Trản tái hiện lại quang cảnh cảng Gianh những năm trước chiến tranh (1964): Bến sâu, sông rộng hiền hòa/Thuyền bè tấp nập vào ra rộn ràng/Người bốc vác, xe chở hàng/Neo ngoài cửa biển tàu đang kéo còi… Cuối bài thơ, anh hạ hai câu đầy trăn trở: Cảng Gianh giờ khác xưa rồi/Cầm vàng mà để vàng rơi… răng đành? (Cảng Gianh).

Còn đây là những vần thơ anh viết về đất nước: Đất nước ta đang chuyển giao thế hệ/Cứ nghèo nàn, lạc hậu mãi vậy chăng?/Dân tộc mình không hiếm bậc tài năng/Phải làm sao cho bằng em, bằng chị?. Hai câu hỏi được anh đặt ra liên tiếp, đủ biết anh rất mực quan tâm đến tương lai đất nước.

 Anh Nguyễn Ngọc Trản có bài thơ lục bát trường thiên kể về công lao cha mẹ: Khép mắt hồi tưởng thời xa/Khổ thân cha mẹ mau già vì con/Cha đóng ghe sức mỏi mòn/Ngoài năm mươi tuổi vẫn còn long đong/Mẹ thời mưa nắng trên sông/Chèo thuyền kịp chợ, gánh gồng kịp phiên…

Cha anh vốn là một tay thợ đóng thuyền nổi tiếng khắp vùng. Mẹ anh siêng năng, hiền lành, phúc hậu. Bà tất bật chợ Sãi, chợ Vang, chợ Cuồi, chợ Huyện… “nhẫn nại nuôi con suốt đời im lặng”. Cho đến khi: Các con tóc bạc cả rồi/Bây giờ mới thấm từng lời ca dao/Bao phen đứng mũi, chịu sào/“Nuôi con mới biết công lao mẹ thầy” (Nghĩ về cha mẹ).

 Năm 2006 khi tròn 60 tuổi, anh Nguyễn Ngọc Trản tổng kết cuộc đời mình bằng bài Tự bạch gồm 74 câu. Có thể xem đó là pho tiểu sử bằng thơ của anh. Đang học phổ thông, anh đã sớm bộc lộ nhiều năng khiếu. Anh có hoa tay, kẻ vẽ rất đẹp. Học giỏi nhưng vì lý lịch “có vấn đề”, nên anh chỉ được đào tạo cấp tốc “mười rô hai” (tốt nghiệp lớp 10 + 2 tháng) ra làm giáo viên dạy cấp 2 (nay là THCS).

Giáo viên thời đó “lương ba cọc ba đồng” không đủ nuôi sống gia đình, nhân có chủ trương giảm biên chế, anh xin nghỉ lấy “một cục” về quê làm đủ nghề: Sửa xe đạp, bơm ga, dán dép… kiếm tiền. Xoay xở đủ nghề nhưng vẫn không đủ sống, anh đành trở lại.

Đường đi dạy ở vùng miền núi, phải qua dốc Ba Trại mà đường Ba Trại thời đó rất khó đi. Vậy nên: Áo quần tròn hai bộ/Sách vở đầy một rương/Xe đạp toòng teng nhảy/Chuông réo suốt dọc đường/Đường thì dài lê thê/Hợp đồng thì ngắn hạn/Đường lổn nhổn, gồ ghề/Cũng phải đành “kết bạn” (Hợp đồng ngắn hạn).

 Đời anh Nguyễn Ngọc Trản lắm thăng trầm nên thơ anh nhiều gai góc. Trăn trở chỉ là “phần dư” trong kho lưu trữ thơ của anh. Bài thơ nào anh cũng viết bằng cảm xúc chân thực của mình. Tôi quý những bài thơ chân thực của anh hơn là những bài thơ chỉ làm bằng trí thông minh nhưng khô khan, thiếu cảm xúc.

Mai Văn Hoan

Nguồn Quảng Trị: https://baoquangtri.vn/van-hoa/202610/doc-tran-tro-cua-nguyen-ngoc-tran-e1d2ad7/