Đổi mới cơ cấu giống lúa để nâng cao giá trị sản xuất

Vụ mùa năm 2026 được dự đoán phải đối mặt với nhiều thách thức từ hiện tượng thời tiết cực đoan, đòi hỏi ngành nông nghiệp và các xã, phường phải chủ động đổi mới cơ cấu giống lúa nhằm đảm bảo an ninh lương thực và hướng tới chuỗi giá trị hàng hóa bền vững.

Nhờ sử dụng cơ cấu giống hợp lý nên diện tích sản xuất lúa tại xã Ba Đình luôn đạt năng suất, chất lượng cao.

Nhờ sử dụng cơ cấu giống hợp lý nên diện tích sản xuất lúa tại xã Ba Đình luôn đạt năng suất, chất lượng cao.

Theo nhận định của các chuyên gia, sản xuất nông nghiệp trong vụ mùa 2026 của tỉnh phải gánh chịu nhiều áp lực lớn từ thiên tai. Tình trạng nắng nóng gay gắt kéo dài đầu vụ, kết hợp với nguy cơ mưa lũ, ngập úng cục bộ và thiếu hụt nguồn nước cuối vụ đang đe dọa trực tiếp đến tiến độ và năng suất gieo cấy. Trước thực tế này đòi hỏi các địa phương không thể duy trì tư duy canh tác cũ. Việc loại bỏ dần những giống lúa thoái hóa, dài ngày, chống chịu kém là yêu cầu cấp thiết để bảo vệ thành quả lao động.

Xã Thiệu Hóa là một trong những địa phương có diện tích sản xuất lúa lớn. Theo kế hoạch, vụ mùa 2026 xã gieo cấy khoảng 1.770ha lúa và tập trung chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu giống theo hướng nâng tỉ lệ lúa chất lượng cao bằng các giống ngắn ngày, kháng bệnh bạc lá. Đồng thời, tích cực đấu mối với các đơn vị uy tín để phát triển diện tích liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm theo hợp đồng. Để bảo đảm năng suất, sản lượng và giá trị kinh tế của vụ mùa 2026, UBND xã chỉ đạo các HTX sản xuất lúa theo 2 trà, giảm tỷ lệ lúa lai, nâng tỷ lệ lúa thuần và những loại giống chất lượng cao đang được thị trường ưa chuộng. Trong đó, trà sớm gồm các giống Bắc Thịnh, Bắc Thơm số 7, TBR97, HG12, TBR225, BC15, nếp các loại và trà muộn gồm các giống Hương Bình, TBR225, ĐB6, Q5.

Ông Lê Cao Quý, Trưởng Phòng Kinh tế xã Thiệu Hóa, cho biết: “Điểm cốt lõi trong phương án sản xuất vụ mùa 2026 là chuyển dịch mạnh mẽ sang nhóm giống lúa chất lượng cao, lúa thơm đặc sản và các giống cực ngắn ngày. Để nâng cao hiệu quả sản xuất, xã đã chú trọng mở rộng tối đa trà mùa sớm để né tránh mưa bão, sâu bệnh cuối vụ và tạo điều kiện mở rộng diện tích vụ đông. Đồng thời, chỉ đạo các HTX nông nghiệp khuyến cáo bà con áp dụng nghiêm ngặt nguyên tắc “Gieo một trà, trỗ nhiều trà” và tuân thủ chặt chẽ khung lịch thời vụ của từng vùng”.

Xã Ba Đình là trọng điểm trồng lúa ở khu vực huyện Nga Sơn cũ, song nhiều diện tích sâu trũng, gặp khó khăn trong sản xuất vào mùa mưa. Do đó, vụ mùa 2026 xã đề ra mục tiêu gieo trồng khoảng 250ha lúa, năng suất phấn đấu đạt 50 tạ/ha. Để phù hợp với điều kiện sản xuất, xã đã xác định bố trí sử dụng các giống lúa thuần có thời gian sinh trưởng ngắn, năng suất, chất lượng cao và thích ứng rộng như Bắc Thịnh, TBR87, TBR97, Bắc Thơm số 7, VNR20, các giống nếp; đối với giống lúa lai sử dụng các giống VT404, Thụy Hương 308, Quốc Tế 1. Thời gian gieo mạ từ ngày 1 đến 5/6/2026; phấn đấu hoàn thành cấy trước ngày 5/7/2026.

HTX dịch vụ nông nghiệp Thiệu Phúc, xã Thiệu Hóa hướng dẫn người dân lựa chọn giống phù hợp sản xuất vụ mùa 2026.

HTX dịch vụ nông nghiệp Thiệu Phúc, xã Thiệu Hóa hướng dẫn người dân lựa chọn giống phù hợp sản xuất vụ mùa 2026.

Để đạt mục tiêu, kế hoạch sản xuất vụ mùa, xã khuyến khích các HTX, người dân đẩy mạnh áp dụng cơ giới hóa, chuyển giao khoa học - kỹ thuật, thực hiện quy trình “3 giảm, 3 tăng”, quản lý dịch hại tổng hợp (IPM), sử dụng phân hữu cơ, phân vi sinh nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất và hướng tới nền nông nghiệp an toàn, bền vững. Đáng chú ý, UBND xã tiếp tục triển khai nhiều cơ chế hỗ trợ thiết thực như hỗ trợ thuốc diệt chuột bảo vệ sản xuất vụ mùa; hỗ trợ 80% tiền giống, tối đa không quá 1,5 triệu đồng/ha đối với các tổ chức, cá nhân thuê, mượn đất để tổ chức sản xuất tập trung từ 5ha trở lên, bảo đảm liền vùng, liền thửa.

Vụ mùa 2026 tỉnh Thanh Hóa đặt mục tiêu phát triển khoảng 110.500ha lúa. Trong đó, diện tích lúa nếp khoảng 10.000ha (chiếm 9,82%) trở lên. Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật đã xây dựng cơ cấu giống lúa chủ lực cho sản xuất vụ mùa trên địa bàn tỉnh. Trong đó, đối với trà lúa mùa sớm, tùy thuộc vào chân đất, sử dụng các giống lúa có thời gian sinh trưởng (TGST) từ dưới 105 ngày đến 125 ngày, như: TBR87, TBR97, Việt Lai 20,TBR225, Bắc Thịnh, Thiên Ưu 8, Đài Thơm 8, Dự Hương 8, Hương Bình, VNR20, VNR88, TBR87, TBR97, MHC2, Hà Phát 3, HANA số 7, QR15, Tân Ưu 98, ADI 168, ADI 28, HANA167... Đối với trà lúa mùa chính vụ sử dụng các giống lúa có TGST dưới 135 ngày như: BC15 (mới), HANA số 7, DQ11, ND502, Thái Hương, Q5, TBR-1, LTh31, HD979, VT404, Quốc Tế 1, Thái Xuyên 111, TBH456, ADI73, Thụy Hương 308; nếp các loại như: nếp Hương, A Sào, nếp Thơm 86, nếp Cô Tiên, nếp N97, nếp 98, ĐT52. Đồng thời, sử dụng các giống nếp hạt cau, nếp cái hoa vàng, nếp địa phương đối với trà lúa mùa muộn.

Ông Hoàng Vũ Tuyến, Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, cho biết: “Để bảo đảm giá trị sản xuất của cây lúa trong vụ mùa, các địa phương cần tập trung mở rộng diện tích gieo cấy trà mùa chính vụ và mùa muộn để đảm bảo an toàn trong sản xuất; chỉ bố trí trà mùa sớm trên diện tích bố trí cây trồng vụ đông sớm hoặc trên diện tích lúa hè thu tránh lũ. Đồng thời, rà soát, đánh giá hiệu quả của các giống đã được cơ cấu trong vụ mùa những năm gần đây tại địa phương để lựa chọn các giống cho năng suất cao, khả năng chống chịu và chất lượng tốt để tiếp tục cơ cấu bộ giống chủ lực theo phương châm mỗi xã, phường chỉ nên cơ cấu 3 - 5 giống chủ lực, mỗi thôn, bản từ 2 - 3 giống nhằm thực hiện tốt các biện pháp quản lý thâm canh, điều tiết nước và quản lý sâu bệnh hại. Cùng với đó, đổi mới cơ cấu giống lúa trong vụ mùa 2026 không thuần túy là việc thay thế hạt giống trên đồng ruộng, mà là bước đi chiến lược chuyển đổi tư duy sản xuất của người dân. Sự chủ động từ khâu chọn giống thích ứng tốt, quản lý thời vụ đến liên kết tiêu thụ chính là điểm tựa vững chắc để Thanh Hóa kỳ vọng về một vụ mùa thắng lợi trọn vẹn cả về năng suất lẫn giá trị kinh tế”.

Bài và ảnh: Lê Hòa

Nguồn Thanh Hóa: http://baothanhhoa.vn/doi-moi-co-cau-giong-lua-de-nang-cao-gia-tri-san-xuat-290209.htm