Đổi mới cơ chế đặt hàng để thúc đẩy công nghiệp văn hóa

Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam xác định mục tiêu đẩy mạnh phát triển, đưa công nghiệp văn hóa thực sự trở thành nguồn lực nội sinh của phát triển đất nước. Muốn hiện thực hóa, cơ chế đặt hàng cần thay đổi theo hướng chuyển từ tư duy đầu tư cho tác phẩm sang đầu tư cho tài sản văn hóa.

Cơ chế đặt hàng cần hướng tới tạo ra những sản phẩm văn hóa có sức sống lâu dài.

Cơ chế đặt hàng cần hướng tới tạo ra những sản phẩm văn hóa có sức sống lâu dài.

Thay đổi tư duy đặt hàng

Những năm qua, các chính sách liên quan chế độ tài trợ, đặt hàng đối với tác phẩm văn học nghệ thuật được nước ta áp dụng đã góp phần tạo đòn bẩy quan trọng về kinh tế và tư tưởng để đội ngũ văn nghệ sĩ có điều kiện thuận lợi sáng tạo những “đứa con tinh thần” có giá trị về cả tư tưởng và nghệ thuật, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa văn nghệ nước nhà.

Tuy nhiên, trong bối cảnh phát triển công nghiệp văn hóa, khi một sự kiện, chương trình không chỉ tồn tại trong không gian, thời gian vật lý, mà còn có thể được nối dài vòng đời trên không gian số và lan tỏa giá trị với nhiều phương thức biểu đạt khác nhau, thì cách đặt hàng chủ yếu chỉ hướng đến việc hoàn thành một sản phẩm hay sự kiện đã bộc lộ nhiều hạn chế.

Trên thực tế, có không ít tác phẩm văn học nghệ thuật được thành hình từ nguồn ngân sách nhà nước nhưng sau khi nghiệm thu không tiếp cận được đông đảo công chúng. Một số vở diễn sân khấu chỉ sáng đèn trong những cuộc thi, liên hoan hoặc phục vụ nhiệm vụ chính trị; một số bộ phim chỉ chiếu được vài buổi rồi xếp kho… Điều này có nghĩa, nguồn kinh phí bỏ ra chưa được khai thác hết hiệu quả, mới chỉ dừng ở mục tiêu đầu tư ban đầu mà chưa tạo được động lực để tác phẩm tiếp tục được lưu hành, lan tỏa và tạo ra giá trị mới trong chuỗi công nghiệp văn hóa.

Thực trạng này đặt ra đòi hỏi cấp thiết phải có sự đổi mới về cơ chế đặt hàng sản phẩm văn hóa nghệ thuật. Và sự đổi mới ấy trước hết cần bắt đầu từ thay đổi tư duy, chuyển từ đặt hàng để hoàn thành tác phẩm sang đặt hàng để tạo ra tài sản văn hóa có sức sống và khả năng sinh lợi về cả văn hóa và kinh tế.

Đạo diễn Đặng Lê Minh Trí cho rằng, công nghiệp văn hóa không bắt đầu từ việc tổ chức những sự kiện lớn, mà bắt đầu từ cách thiết kế chuỗi giá trị, từ cách tư duy về vòng đời sản phẩm, và từ cách xây dựng năng lực để chế biến một chất liệu văn hóa thành tài sản có thể khai thác lâu dài. Lâu nay, cơ chế đặt hàng văn hóa ở các cấp Trung ương, địa phương, các tập đoàn và doanh nghiệp tại nước ta thường chỉ tập trung vào việc tổ chức một chương trình hoặc một đêm diễn. Vì thế, ngân sách được định rõ cho việc thực hiện những yêu cầu đó thường bị coi là chi phí tiêu dùng một lần, không phải vốn đầu tư tạo ra tài sản.

Theo đạo diễn Đặng Lê Minh Trí, thay vì đặt hàng một sản phẩm, cần chuyển sang mô hình đặt hàng "IP văn hóa" có khả năng khai thác từ 3-5 năm, nhất là với các dự án quốc gia, các dự án do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì hay do các tập đoàn nhà nước tài trợ. Khi đặt hàng theo cách này, ngân sách không chỉ là chi phí, mà còn là vốn mồi để tạo ra tài sản. Những sản phẩm phái sinh có thể tiếp tục tạo doanh thu, có thể nuôi sống một hệ sinh thái sáng tạo xung quanh chương trình gốc, và có thể hỗ trợ lâu dài cho các nhà sáng tạo, nhạc sĩ, diễn viên, và đội ngũ sản xuất.

Đầu tư cho vòng đời sản phẩm

Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 nhấn mạnh định hướng cần tập trung phát triển trọng tâm, trọng điểm 6 ngành công nghiệp văn hóa (điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, phần mềm và các trò chơi giải trí, quảng cáo, thủ công mỹ nghệ, du lịch văn hóa), hình thành kết nối, gia tăng giá trị sản phẩm, thúc đẩy khả năng khai thác và chuyển hóa các giá trị văn hóa trở thành sức mạnh mềm quốc gia.

Theo đó, để có khả năng tham gia vào chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa, mỗi sản phẩm được đặt hàng không những cần đáp ứng yêu cầu về chất lượng nghệ thuật, mà còn phải có khả năng tiếp cận thị trường, mở rộng không gian khai thác.

Các chương trình nghệ thuật cần được đầu tư theo hướng hình thành tài sản văn hóa có giá trị bền vững.

Các chương trình nghệ thuật cần được đầu tư theo hướng hình thành tài sản văn hóa có giá trị bền vững.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội cho rằng, một thời gian dài, chúng ta thường đặt hàng văn hóa theo tư duy “hoàn thành nhiệm vụ”: tổ chức xong một chương trình, biểu diễn xong một vở diễn, dựng xong một sự kiện, nghiệm thu xong một sản phẩm. Cách làm này có ý nghĩa trong những hoàn cảnh nhất định, nhưng nếu tiếp tục duy trì như một tư duy chủ đạo thì rất khó phát triển công nghiệp văn hóa.

Vì thế, cơ chế đặt hàng cần chuyển từ đặt hàng “sự kiện” sang đặt hàng “hệ sinh thái giá trị”. Nghĩa là ngay từ đầu, khi Nhà nước hoặc các tổ chức đặt hàng một chương trình, tác phẩm, dự án nghệ thuật, cần tính đến khả năng lưu trữ, số hóa, truyền thông, khai thác bản quyền, phát triển sản phẩm phái sinh, mở rộng công chúng và tạo nguồn thu tiếp nối.

Chẳng hạn, nếu đặt hàng một chương trình nghệ thuật lớn, không nên chỉ tính kinh phí cho sân khấu, âm thanh, ánh sáng, diễn viên và buổi biểu diễn trực tiếp. Cần tính cả phần ghi hình chất lượng cao, sản xuất nội dung số, phim tài liệu hậu trường, thiết kế nhận diện, bộ sản phẩm truyền thông, bản quyền âm nhạc, vật phẩm lưu niệm, khả năng phát hành trên nền tảng số, thậm chí khả năng đưa chương trình đi lưu diễn hoặc tái dựng ở các không gian khác. Như vậy, ngân sách bỏ ra không chỉ tạo ra một đêm diễn, mà tạo ra một kho nội dung, một thương hiệu, một tài sản văn hóa có thể tiếp tục sinh lời và lan tỏa.

Muốn làm được điều đó, theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Hoài Sơn, cơ chế đặt hàng phải thay đổi ở ba điểm. Thứ nhất, tiêu chí đặt hàng phải gắn với vòng đời sản phẩm, không chỉ trả lời cho câu hỏi chương trình diễn ra thế nào, mà còn phải giải đáp được chương trình còn lại gì: dữ liệu gì, bản quyền gì, nội dung gì, sản phẩm gì, công chúng nào, thị trường nào…

Thứ hai, cơ chế tài chính phải cho phép đầu tư vào khâu sáng tạo, truyền thông, số hóa và khai thác sau sự kiện. Đây là khâu hay “bị” tiết kiệm nhưng lại chính là khâu quyết định một sản phẩm có thể đi xa hay không.

Thứ ba, phải rõ ràng về quyền sở hữu trí tuệ, quyền khai thác và cơ chế chia sẻ lợi ích. Nếu Nhà nước đặt hàng, doanh nghiệp tham gia, nghệ sĩ sáng tạo, đơn vị sản xuất vận hành, thì cần xác định ngay từ đầu ai sở hữu phần nào, ai được khai thác phần nào, lợi ích được chia sẻ ra sao. Bởi không có nền công nghiệp văn hóa nào phát triển nếu bản quyền mơ hồ, tài sản sáng tạo không được định giá, và người sáng tạo không được hưởng lợi xứng đáng.

“Trong giai đoạn tới, đặt hàng văn hóa phải trở thành đặt hàng phát triển tài sản văn hóa. Một đồng ngân sách chi cho văn hóa không chỉ để tạo ra một sự kiện, mà phải có khả năng kích hoạt nhiều dòng giá trị: giá trị nghệ thuật, giá trị giáo dục, giá trị cộng đồng, giá trị truyền thông, giá trị kinh tế và giá trị thương hiệu quốc gia” - Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Hoài Sơn nhấn mạnh.

Đó cũng chính là con đường để các nguồn lực đầu tư được phát huy hiệu quả, góp phần hình thành những sản phẩm công nghiệp văn hóa có giá trị và sức sống bền vững.

TRANG ANH

Nguồn Nhân Dân: https://nhandan.vn/doi-moi-co-che-dat-hang-de-thuc-day-cong-nghiep-van-hoa-post979076.html