Đổi mới cơ chế tài chính, tạo đột phá cho công nghệ chiến lược

Cơ chế mới chuyển từ quản lý chi phí đầu vào sang quản trị theo gói công việc, mốc đánh giá và kết quả đầu ra, đồng thời tăng quyền tự chủ cho tổ chức nghiên cứu gắn với trách nhiệm giải trình.

Ngày 1/8/2026, Bộ trưởng Bộ KH&CN ban hành Thông tư số 49 quy định cơ chế tài chính đối với nhiệm vụ nghiên cứu và phát triển công nghệ chiến lược thuộc Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược.

Điểm xuyên suốt của cơ chế mới là chuyển từ quản lý chi phí đầu vào sang quản trị theo gói công việc, mốc đánh giá và kết quả đầu ra; trao quyền tự chủ cao hơn cho tổ chức thực hiện đi đôi với trách nhiệm giải trình; đồng thời tạo khuôn khổ tài chính phù hợp hơn với tính bất định của hoạt động nghiên cứu, phát triển công nghệ và bảo đảm quản lý chặt chẽ, hiệu quả nguồn lực ngân sách nhà nước.

Thể chế hóa chủ trương đột phá của Đảng về KH-CN và công nghệ chiến lược

Thông tư số 49/2026/TT-BKHCN là một bước cụ thể hóa các chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và công nghệ chiến lược.

Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực chính của mô hình tăng trưởng mới; đồng thời đặt ra yêu cầu khẩn trương hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển khoa học, công nghệ và các ngành mũi nhọn phù hợp với nguyên tắc thị trường, chuẩn mực và thông lệ quốc tế; có chính sách vượt trội đối với lao động sáng tạo, thu hút và trọng dụng nhân tài.

Đặc biệt, Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị xác định thể chế, nhân lực, hạ tầng, dữ liệu và công nghệ chiến lược là những nội dung trọng tâm, cốt lõi, trong đó thể chế phải đi trước một bước; ưu tiên nguồn lực quốc gia cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; từng bước tự chủ về công nghệ, nhất là công nghệ chiến lược.

Nghị quyết 57-NQ/TW đồng thời đặt ra yêu cầu có cơ chế đặc thù để thu hút, trọng dụng và giữ chân nhà khoa học đầu ngành, chuyên gia và các “Tổng công trình sư” trong và ngoài nước có khả năng tổ chức, điều hành và triển khai các nhiệm vụ trọng điểm quốc gia.

Trên tinh thần đó, Thông tư số 49/2026/TT-BKHCN cụ thể hóa chủ trương bằng những cơ chế tài chính có thể triển khai ngay trong thực tiễn: trả thù lao theo vị trí công việc; thuê chuyên gia theo cơ chế thị trường; quản lý kinh phí theo gói công việc và mốc đánh giá; khoán chi theo kết quả; tăng quyền tự chủ; huy động nguồn lực ngoài ngân sách; bố trí kinh phí dự phòng; triển khai nhiều phương án nghiên cứu độc lập và xử lý tài chính đối với rủi ro được chấp nhận.

Đột phá về thù lao để thu hút Tổng công trình sư, nhân lực chất lượng cao

Một trong những thay đổi nổi bật nhất là cơ chế chi trả thù lao cho nhân lực thực hiện nhiệm vụ công nghệ chiến lược.

Thay vì chủ yếu dựa trên chức danh hành chính hoặc ngày công, thù lao được xác định theo vị trí công việc, yêu cầu chuyên môn, trách nhiệm, thời gian tham gia và sản phẩm đầu ra. Tổ chức chủ trì được chủ động xác định vị trí công việc phù hợp với từng gói công việc và yêu cầu thực tế của nhiệm vụ.

Trong quá trình xây dựng chính sách, Bộ Khoa học và Công nghệ đã nghiên cứu, tham chiếu mô hình nhân lực nghiên cứu của Cơ quan Khoa học, Công nghệ và Nghiên cứu Singapore (A*STAR), đối sánh các vị trí có tính chất và mức độ trách nhiệm tương ứng. 

Mức đề xuất được xây dựng trên cơ sở tham chiếu thu nhập tại Singapore, quy đổi thu nhập sau thuế và điều chỉnh theo sức mua tương đương (PPP), thay vì quy đổi cơ học theo tỷ giá danh nghĩa. Đồng thời, việc xác định mức thù lao còn tính đến yêu cầu cạnh tranh trong thu hút nhân lực khoa học, công nghệ trình độ cao và mức độ khan hiếm của một số vị trí đặc biệt, nhất là Tổng công trình sư.

Theo phương pháp tham chiếu này, mức thù lao đề xuất được xác định theo hướng phân tầng tương ứng với trách nhiệm và mức độ đóng góp: Tổng công trình sư tối đa 300 triệu đồng/tháng; Chủ nhiệm nhiệm vụ tối đa 150 triệu đồng/tháng; các thành viên chính mức tối đa là 120 triệu đồng/tháng, 100 triệu đồng/tháng tương ứng với từng vị trí, thành viên trực tiếp thực hiện, mức tối đa từ 70 đến 90 triệu đồng/tháng tùy vị trí; kỹ thuật viên, nhân viên hỗ trợ chuyên môn tối đa 45 triệu đồng/tháng.

Đây là mức trần để lập, thẩm định và phê duyệt dự toán. Mức thù lao của từng cá nhân được xác định theo vị trí công việc, số tháng và tỷ lệ thời gian thực tế tham gia nhiệm vụ.

Cách tiếp cận này thể hiện rõ quan điểm: đầu tư cho công nghệ chiến lược trước hết phải đầu tư cho con người có khả năng tạo ra và làm chủ công nghệ. Muốn thu hút được Tổng công trình sư, nhà khoa học và nhân lực công nghệ trình độ cao thì chính sách đãi ngộ phải tương xứng với trách nhiệm, năng lực và giá trị mà họ tạo ra.

Minh Hương

Nguồn VietnamNet: https://vietnamnet.vn/doi-moi-co-che-tai-chinh-tao-dot-pha-cho-cong-nghe-chien-luoc-2544339.html