Mở 'luồng xanh' thể chế, khơi thông nguồn lực cho các đô thị
Tiếp tục phiên thảo luận tại hội trường về dự án Luật Phát triển đô thị, các đại biểu Quốc hội đã tập trung thảo luận 4 nhóm nội dung cốt lõi: Thiết lập cơ chế tài chính xanh và mô hình phát triển đô thị theo định hướng phát triển giao thông công cộng (TOD); đẩy mạnh phân cấp, phân quyền đi đôi với kiểm soát quyền lực; mở rộng phạm vi áp dụng chính sách đặc thù cho các đô thị động lực; và định hình không gian phát triển kinh tế biển cùng các dự án lấn biển. Những đóng góp từ thực tiễn đã đặt ra yêu cầu kiến tạo một hành lang pháp lý vừa mở đường cho đổi mới, vừa bảo đảm kỷ cương và an toàn tài chính.

Thảo luận tại hội trường về dự án Luật Phát triển đô thị, các đại biểu Quốc hội đã tập trung thảo luận 4 nhóm nội dung cốt lõi (Ảnh: VPQH)
Khơi thông tài chính xanh, tối ưu hóa nguồn lực từ mô hình TOD và thị trường carbon
Một trong những điểm nhấn thu hút sự quan tâm của các đại biểu là việc xây dựng các công cụ tài chính mới gắn với phát triển đô thị bền vững.
Đóng góp ý kiến về cơ chế thực hiện các biện pháp giảm phát thải khí nhà kính thông qua trao đổi, bù trừ tín chỉ carbon tại khu kinh tế đặc biệt (Khoản 4, Điều 46), đại biểu Trịnh Thị Tú Anh (đoàn Lâm Đồng) đánh giá cao việc dự thảo dành cơ chế riêng cho giao dịch tín chỉ carbon. Đại biểu nhấn mạnh tầm quan trọng của quy định cho phép tín chỉ carbon hình thành từ các dự án sử dụng ngân sách nhà nước được giao dịch với nhà đầu tư trong và ngoài nước, đồng thời để lại 100% nguồn thu cho ngân sách địa phương tái đầu tư cho các mục tiêu xanh.
Tuy nhiên, đại biểu Tú Anh lưu ý cần quy định chặt chẽ quyền đại diện quản lý, cơ chế định giá và thẩm quyền phê duyệt đối với các tín chỉ carbon từ nguồn vốn công. Đặc biệt, cần thiết lập cơ chế hạch toán, đối soát ở cấp quốc gia để ngăn ngừa tình trạng tính hai lần (double counting). Ngoài ra, cần phân biệt rõ tín chỉ carbon giao dịch thông thường với việc chuyển giao kết quả giảm nhẹ quốc tế theo Điều 6.2 của Thỏa thuận Paris để bảo đảm tuân thủ quy định quản lý thống nhất của Nhà nước.
Bên cạnh tài chính xanh, việc khai thác giá trị gia tăng từ TOD cũng được các đại biểu phân tích kỹ lưỡng. Đại biểu Trần Thế Anh (đoàn Ninh Bình) khẳng định chuyển nhượng chỉ tiêu sử dụng đất quy hoạch trong khu vực TOD là cơ chế mới có ý nghĩa quan trọng để điều tiết không gian và khai thác giá trị đất. Đại biểu đề nghị bổ sung khái niệm rõ ràng ngay tại Điều 2 để xác định đây là quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, không phải giao dịch tự do giữa các chủ thể. Đồng thời, cần xác định rõ giá trị pháp lý của quyết định chuyển nhượng để cập nhật vào hồ sơ, cơ sở dữ liệu quy hoạch, tránh tạo thêm thủ tục điều chỉnh quy hoạch song song.
Dưới góc độ chi phí của doanh nghiệp, đại biểu Nguyễn Duy Thanh (đoàn Cà Mau) tán thành việc thu một phần giá trị tăng thêm do hạ tầng mang lại để tái đầu tư cho đường sắt đô thị. Mặc dù vậy, đại biểu đề nghị luật phải quy định rõ nguyên tắc không thu trùng đối với các nghĩa vụ tài chính đất đai đã nộp khi điều chỉnh quy hoạch, đồng thời làm rõ phạm vi cụm từ "các khoản thu khác" để doanh nghiệp yên tâm tính toán hiệu quả đầu tư.
Phân cấp, phân quyền triệt để phải gắn liền với "khóa" quyền lực và trách nhiệm người đứng đầu
Nhóm vấn đề về đổi mới phương thức quản trị đô thị thông qua phân cấp, phân quyền được các đại biểu Quốc hội dành nhiều thời gian thảo luận.
Đại biểu Trịnh Xuân An (đoàn Đồng Nai) đánh giá cao triết lý của dự thảo luật khi chuyển mạnh từ quản lý hành chính sang kiến tạo phát triển, phân quyền rộng rãi thay vì để các địa phương phải đi xin cơ chế đặc thù riêng lẻ. Nhấn mạnh việc dự thảo giao hơn 150 thẩm quyền cho Hội đồng nhân dân (HĐND), đại biểu An cho rằng HĐND phải thực sự phát huy vai trò thiết chế dân cử trong việc quyết định chính sách và kiểm soát cơ quan hành chính. Đại biểu đề nghị làm rõ 3 nấc kiểm soát: Trước khi quyết định, trong quá trình thực hiện và hậu kiểm, nhằm tránh nguy cơ phân mảnh pháp luật khi các địa phương ban hành chính sách khác nhau.
Đồng tình với chủ trương phân quyền mạnh mẽ, đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn (đoàn Hải Phòng) và đại biểu Nguyễn Đại Thắng (đoàn Hưng Yên) đặc biệt nhấn mạnh nguyên tắc "phân quyền càng mạnh thì kiểm soát quyền lực càng phải chặt chẽ". Đại biểu Sơn kiến nghị phải luật hóa rõ ranh giới của quyền lực, trách nhiệm của người quyết định và cơ chế kiểm soát độc lập; tuyệt đối không để cơ chế giải phóng nguồn lực bị lợi dụng thành công cụ hợp thức hóa các dự án chậm tiến độ hay lợi ích nhóm.
Cụ thể hóa về yêu cầu kiểm soát, đại biểu Nguyễn Đại Thắng đề nghị làm rõ trách nhiệm giải trình của người đứng đầu, cơ chế giám sát của Quốc hội, Chính phủ và HĐND. Đối với cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (Điều 8, Điều 30), đại biểu Thắng đề nghị làm rõ mối quan hệ với pháp luật chuyên ngành (đất đai, điện lực, quy hoạch), đồng thời quy định nguyên tắc bảo vệ cán bộ khi đã thực hiện đúng quy trình được cấp có thẩm quyền cho phép nhưng phát sinh rủi ro do khách quan.
Về thẩm quyền thí điểm chính sách tại Điều 8, đại biểu Lê Thị Song An (đoàn Tây Ninh) đề xuất thay vì liệt kê các lĩnh vực được thí điểm, luật nên quy định rõ các lĩnh vực không được thí điểm. Đồng thời, đối với những vấn đề chưa được pháp luật quy định, sau khi thí điểm thành công và đáp ứng tiêu chí do luật giao, nên phân quyền cho HĐND thành phố quyết định chuyển sang áp dụng chính thức trên địa bàn để tháo gỡ điểm nghẽn thể chế từ thực tiễn.
Mở rộng phạm vi áp dụng chính sách cho các đô thị động lực, tháo gỡ rào cản thủ tục
Thảo luận về phạm vi điều chỉnh tại Điều 1, nhiều đại biểu bày tỏ băn khoăn trước quy định tại Khoản 3, khi các thành phố trực thuộc trung ương khác (chưa phải đô thị đặc biệt) phải "có chủ trương của cấp có thẩm quyền" và chờ quy định của Chính phủ mới được áp dụng một số cơ chế đặc thù.
Đại biểu Phạm Văn Thịnh (đoàn Bắc Ninh) phân tích, quy định này sẽ làm chậm tiến độ triển khai chính sách tại các tỉnh, thành phố có quy mô công nghiệp lớn như Hải Phòng, Đồng Nai, Bắc Ninh - những đầu tàu đang rất cần cơ chế mới để cạnh tranh thu hút dòng vốn, công nghệ và nhân lực. Đại biểu Thịnh đề xuất phương án cho phép các thành phố này được áp dụng ngay một số cơ chế, chính sách nêu trong luật mà không cần thêm điều kiện xin chủ trương. Đồng thời, đại biểu đề nghị sửa Khoản 3, Khoản 4, Điều 1 để cho phép các thành phố này được ban hành thủ tục hành chính thực hiện thẩm quyền mới được phân cấp (Điểm a, Khoản 2, Điều 7).
Cùng chung góc nhìn, đại biểu Nguyễn Duy Minh (đoàn TP. Đà Nẵng) cho rằng điều kiện "phải có chủ trương của cấp có thẩm quyền" không làm tăng mức độ an toàn cho hệ thống pháp luật mà chỉ làm mất đi cơ hội tiếp cận cơ chế tốt của các địa phương. Bản thân các quy định tại Chương II đã là một ngưỡng sàng lọc khắt khe đối với năng lực của từng đô thị. Do đó, đại biểu Minh kiến nghị Quốc hội điều chỉnh quy định này theo hướng cho phép các thành phố áp dụng trực tiếp các cơ chế đặc thù thúc đẩy phát triển đô thị ngay trong luật.
Ở góc độ địa phương trung du, đại biểu Bùi Thanh Nam (đoàn Phú Thọ) chỉ ra rằng nếu chỉ dựa vào tiêu chí có cảng hàng không quốc tế và cảng biển loại 1 trở lên (Điểm b, Khoản 1, Điều 42) thì chỉ có 9 tỉnh đáp ứng, nhiều địa phương có vị trí chiến lược như Phú Thọ sẽ không đủ điều kiện thành lập khu kinh tế đặc biệt. Đại biểu Nam đề nghị bổ sung tiêu chí "cửa ngõ đường bộ, đường sắt, ga đường sắt liên vận quốc tế, cảng cạn, trung tâm logistics cấp vùng nằm trên hành lang kinh tế quốc tế", đồng thời quy định nguyên tắc phân bổ hợp lý giữa các vùng kinh tế - xã hội để tránh làm gia tăng chênh lệch vùng miền.
Định hình không gian kinh tế biển và cẩn trọng với cơ chế dự án lấn biển
Nhóm vấn đề về phát triển kinh tế biển, quy hoạch không gian biển và dự án lấn biển cũng nhận được nhiều ý kiến đóng góp tâm huyết từ các đại biểu.
Đại biểu Tạ Đình Thi (đoàn TP. Hà Nội) khẳng định các chính sách về kinh tế biển trong luật cần thực sự đột phá để hiện thực hóa Nghị quyết 20 của Ban Chấp hành Trung ương và Nghị quyết 139 của Quốc hội. Đại biểu Thi đề nghị giao thẩm quyền và cơ chế đặc thù để các đô thị đặc biệt tiên phong xây dựng mô hình đô thị biển thông minh, trung tâm kinh tế biển mạnh. Đồng thời, cần bổ sung cơ chế thử nghiệm có kiểm soát cho các công nghệ năng lượng tái tạo (điện gió ngoài khơi), khai thác biển sâu, kinh tế hydro xanh; bảo đảm kết nối hạ tầng chiến lược giữa đô thị cảng biển, cảng hàng không và khu kinh tế đặc biệt.
Về phía địa phương ven biển, đại biểu Tô Ái Vang (đoàn TP. Cần Thơ) đề xuất bổ sung quy định liên kết đô thị ven biển gắn với phát triển kinh tế biển lưỡng dụng và bảo đảm quốc phòng, an ninh. Đại biểu Vang phân tích, việc kết nối dải đô thị ven biển với hạ tầng số và giao thông liên vùng sẽ tạo nên chuỗi giá trị kinh tế biển liên hoàn từ Bắc vào Nam, mở rộng trần tăng trưởng cho các dịch vụ cao cấp, tài chính, công nghệ, đồng thời giảm áp lực dân số cho các đô thị trung tâm.
Đối với đề xuất bổ sung quy định về khu đô thị lấn biển, phiên thảo luận ghi nhận các ý kiến tranh luận kỹ lưỡng. Đại biểu Nguyễn Duy Minh (đoàn TP. Đà Nẵng) kiến nghị bổ sung cơ chế đặc thù cho các dự án lấn biển nhằm thể chế hóa chủ trương đổi mới quản trị không gian biển. Tuy nhiên, đại biểu Nguyễn Phương Thủy (đoàn TP. Hà Nội) đã phát biểu tranh luận, cho rằng các dự án lấn biển có quy mô vốn rất lớn, tác động sâu rộng đến môi trường, hệ sinh thái và cảnh quan.
Đại biểu Thủy nhấn mạnh: “Bản thân việc xây dựng dự án Luật Phát triển đô thị đến nay đã rất phức tạp. Việc đưa một chính sách mới, rất phức tạp và mang tính cá biệt của một địa phương vào dự thảo luật ở giai đoạn này sẽ khó bảo đảm thời gian đánh giá tác động và thảo luận thực chất. Cơ chế đặc thù lấn biển nên được thiết kế trong một luật hoặc nghị quyết riêng của Quốc hội thay vì đưa vào Luật Phát triển đô thị”.











