Đổi mới đào tạo nhân lực ngành Công Thương từ nhu cầu doanh nghiệp
Với mạng lưới hợp tác khoảng 5.295 doanh nghiệp, hiệp hội và cơ quan, các cơ sở đào tạo ngành Công Thương đang tăng cường gắn đào tạo với nhu cầu sử dụng lao động.
Hội nghị tổng kết công tác đào tạo, bồi dưỡng ngày 29/10/2026, yêu cầu đổi mới chương trình, nâng cao chất lượng thực hành và phát huy vai trò của doanh nghiệp trong đào tạo được nhấn mạnh nhằm đáp ứng những thay đổi về công nghệ và thị trường lao động.
Từ nhu cầu doanh nghiệp đến yêu cầu đổi mới đào tạo
Theo Báo cáo tổng kết công tác đào tạo, bồi dưỡng và phát triể nguồn nhân lực năm 2026 của Bộ Công Thương, trong năm 2025, khoảng 47.600 lượt người học được thực tập, thực hành tại doanh nghiệp, cơ quan. Giai đoạn 2025–2026, doanh nghiệp tham gia xây dựng, góp ý hơn 700 chương trình, ngành hoặc môn học. Các trường cũng huy động hàng trăm chuyên gia, cán bộ kỹ thuật của doanh nghiệp tham gia giảng dạy.
Tính đến tháng 10/2026, các cơ sở đào tạo trong ngành Công Thương duy trì quan hệ hợp tác với khoảng 5.295 doanh nghiệp, hiệp hội và cơ quan, tập trung vào thực tập, tuyển dụng, xây dựng chương trình đào tạo, nghiên cứu và chuyển giao công nghệ. Giai đoạn 2023–2025, các cơ sở đã đào tạo theo đặt hàng hoặc đào tạo lại cho khoảng 26.000 lượt người học, người lao động.
Hệ thống cơ sở đào tạo có 262.346 người học, trong đó 179.128 thuộc khối giáo dục đại học và 83.218 thuộc khối cao đẳng. Các ngành, nghề đào tạo trải rộng từ cơ khí, điện, điện tử, tự động hóa, ô tô, năng lượng đến thương mại, xuất nhập khẩu và logistics. Quy mô và cơ cấu ngành nghề đa dạng đặt ra yêu cầu gắn đào tạo với nhu cầu sử dụng nhân lực của doanh nghiệp theo từng lĩnh vực và trình độ.

Đại học Công nghiệp Hà Nội vinh danh các kỹ sư tiêu biểu năm 2026 tại lễ tốt nghiệp của Trường Cơ khí - Ô tô.
Về định hướng thời gian tới, Bộ Công Thương xác định cần tiếp tục rà soát cơ cấu ngành, nghề và quy mô tuyển sinh phù hợp với nhu cầu nhân lực của doanh nghiệp, từng ngành và địa phương; tăng cường thực hành, thực tập, bổ sung kỹ năng số, kỹ năng xanh, ngoại ngữ chuyên ngành và kiến thức an toàn. Việc điều chỉnh chương trình đào tạo cần căn cứ vào yêu cầu của từng vị trí việc làm và phản hồi của đơn vị sử dụng lao động.
Từ yêu cầu gắn đào tạo với nhu cầu sử dụng nhân lực, trong tham luận trình bày tại Hội nghị, PGS.TS. Vũ Thị Thu Nga, Trưởng Khoa Kỹ thuật điện, Trường Đại học Điện lực, nhấn mạnh việc chuẩn bị đội ngũ phải được thực hiện ngay từ khi xây dựng chương trình, quy hoạch và dự án năng lượng. Trong tham luận tại Hội nghị, ông cho rằng phát triển nhân lực năng lượng cần giải quyết đồng thời ba nhiệm vụ: duy trì đội ngũ đáp ứng yêu cầu vận hành hệ thống hiện hữu; chuẩn bị nhân lực cho các dự án, công nghệ mới; phát triển đội ngũ nghiên cứu, thiết kế, chế tạo và quản trị nhằm từng bước nâng cao năng lực tự củ công nghệ.
Đưa doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào quá trình đào tạo
Để đáp ứng những yêu cầu này, PGS.TS. Vũ Thị Thu Nga đề xuất lấy năng lực thực hiện công việc làm thước đo chất lượng đào tạo, tăng cường sự tham gia của doanh nghiệp từ khâu xác định chuẩn năng lực, tổ chức thực hành đến đánh giá kết quả học tập. Hoạt động hợp tác cần được mở rộng theo hướng doanh nghiệp tham gia trực tiếp vào quá trình đào tạo, thay vì chỉ tiếp nhận sinh viên thực tập.
Theo đề xuất này, trước khi triển khai một chương trình, nhà trường và doanh nghiệp cần thống nhất nhiệm vụ thực hành, vị trí tiếp nhận, người hướng dẫn, dữ liệu được sử dụng và tiêu chí hoàn thành. Kết quả thực tập cần được thể hiện bằng sản phẩm có thể kiểm tra, chẳng hạn báo cáo phân tích hiệu suất, phương án bảo trì hoặc hồ sơ đánh giá rủi ro. Các yêu cầu về huấn luyện, giám sát và an toàn phải phù hợp với công việc mà người học được tiếp cận.
Thực tế tại Trường Đại học Điện lực đã có những hoạt động đào tạo gắn với doanh nghiệp và yêu cầu nghề nghiệp. Ngày 19/10/2026, Khoa Quản lý Công nghiệp và Năng lượng tổ chức cho sinh viên D18 ngành Quản lý năng lượng thực tập vận hành tại Công ty Cổ phần Nhiệt điện Phả Lại. Sinh viên được tiếp cận thiết bị, các chỉ tiêu kinh tế – kỹ thuật và hoạt động vận hành trong điều kiện thị trường điện. Ngày 16/3/2026, Trường Đại học Điện lực khai giảng khóa nâng cao năng lực kiểm toán viên năng lượng, với các nội dung lập bản đồ năng lượng và phân tích tài chính cho dự án tiết kiệm năng lượng.

PGS.TS. Vũ Thị Thu Nga trình bày tham luận tại Hội nghị tại Hội nghị tổng kết công tác đào tạo, bồi dưỡng ngày 29/10/2026
Trường Đại học Điện lực đề xuất tăng cường sử dụng dữ liệu thực tế của doanh nghiệp trong giảng dạy, giúp sinh viên vận dụng kiến thức vào giải quyết các vấn đề kỹ thuật. Chẳng hạn, với nội dung đào tạo về điện mặt trời và hệ thống lưu trữ năng lượng, sinh viên có thể sử dụng dữ liệu do doanh nghiệp cung cấp để xây dựng phương án vận hành và đánh giá hiệu quả. Kết quả học tập được đề xuất đánh giá với sự tham gia của cả giảng viên và chuyên gia doanh nghiệp.
Ngày 13/10/2026, Trường Đại học Điện lực ra mắt Cổng thông tin kết nối việc làm EJOB. Theo định hướng của nhà trường, hệ thống sẽ hỗ trợ thu thập thông tin tuyển dụng của doanh nghiệp theo vị trí việc làm, yêu cầu kỹ năng, trình độ và địa bàn; đồng thời theo dõi hoạt động thực tập, kết quả đánh giá và tình hình việc làm của người học.
Bên cạnh việc đưa yêu cầu thực tế của doanh nghiệp vào chương trình giảng dạy, hoạt động đào tạo nhân lực kỹ thuật còn được gắn với các dự án nghiên cứu, thiết kế và chế tạo thiết bị công nghiệp. Chia sẻ kinh nghiệm tại Hội nghị, ông Nguyễn Tiến Dũng, Phó Viện trưởng NARIME cho biết, Viện đã phối hợp với các trường đại học và doanh nghiệp triển khai nhiều nhiệm vụ nghiên cứu, phát triển công nghệ. Điển hình tại dự án giàn khoan Tam Đảo 3, PV Shipyard giữ vai trò nòng cốt trong chế tạo, thi công; NARIME cùng Đại học Bách khoa Hà Nội và Trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh tham gia nghiên cứu, tính toán, thiết kế. Kinh nghiệm từ dự án tiếp tục được ứng dụng tại giàn khoan Tam Đảo 5, đồng thời góp phần đào tạo đội ngũ chuyên gia, kỹ sư.
Từ thực tiễn triển khai các dự án, NARIME đề xuất gắn đào tạo nghiên cứu sinh, học viên cao học và kỹ sư trẻ với các nhiệm vụ nghiên cứu, thiết kế, chế tạo và ứng dụng công nghệ trong sản xuất. Viện cũng kiến nghị tăng thời lượng thực hành, thực tập tại viện nghiên cứu và doanh nghiệp, đồng thời mở rộng hoạt động phối hợp hướng dẫn luận văn, luận án với sự tham gia của các chuyên gia.
Đổi mới liên kết đào tạo để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
Bên cạnh những kết quả đạt được, việc gắn đào tạo với nhu cầu doanh nghiệp vẫn còn những vấn đề cần giải quyết, nhất là về điều kiện thực hành, chất lượng đào tạo và cơ chế phối hợp giữa các bên.
PGS.TS. Vũ Thị Thu Nga cảnh báo nguy cơ chương trình đào tạo cập nhật công nghệ mới nhưng điều kiện thực hành và năng lực giảng viên chưa theo kịp; hoạt động thực tập thiếu nhiệm vụ cụ thể, chủ yếu dừng ở quan sát. Bà cũng lưu ý nguy cơ đầu tư thiết bị phân tán, đánh giá hợp tác doanh nghiệp chủ yếu qua số lượng thỏa thuận mà chưa chú trọng đầy đủ đến năng lực thực tế của giảng viên và người học. Những vấn đề này cần được rà soát ở từng chương trình đào tạo để có giải pháp khắc phục phù hợp.
Để nâng cao khả năng đáp ứng nhu cầu sử dụng lao động, PGS.TS. Vũ Thị Thu Nga đề xuất xây dựng cơ sở dữ liệu nhu cầu nhân lực từ thông tin được doanh nghiệp xác nhận, trong đó xác định rõ vị trí tuyển dụng, yêu cầu năng lực, số lượng, địa bàn và thời điểm cần nhân lực. Các cơ sở đào tạo cần thường xuyên cập nhật thông tin theo tiến độ dự án và sự thay đổi của công nghệ, làm căn cứ điều chỉnh chương trình, quy mô đào tạo.
Về các lĩnh vực ưu tiên, nhà trường tập trung định hướng đào tạo nhân lực cho hệ thống điện hiện đại, tích hợp năng lượng tái tạo và lưu trữ, quản lý năng lượng, kiểm toán năng lượng và tối ưu vận hành; đồng thời chuẩn bị đội ngũ giảng viên, phát triển các mô-đun đào tạo phục vụ điện hạt nhân. Với công nghệ hydrogen và amoniac, việc đào tạo chuyên sâu cần gắn với nhu cầu nhân lực, dự án và điều kiện thực hành cụ thể; trước mắt ưu tiên nghiên cứu, mô phỏng và đào tạo giảng viên.

Ông Nguyễn Tiến Dũng, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Cơ khí, trình bày tham luận tại Hội nghị
Bên cạnh việc xác định nhu cầu nhân lực và các lĩnh vực đào tạo ưu tiên, cơ chế phối hợp giữa cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu và doanh nghiệp cũng cần tiếp tục được hoàn thiện. Từ thực tiễn hoạt động, Viện Nghiên cứu Cơ khí (NARIME) chỉ ra rằng cơ chế phối hợp giữa viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp chưa đồng bộ; nhu cầu doanh nghiệp chưa được chuyển đầy đủ thành nhiệm vụ nghiên cứu và đào tạo. Viện kiến nghị Bộ Công Thương tăng cường đặt hàng nghiên cứu gắn với đào tạo sau đại học, thúc đẩy hợp tác theo các dự án cụ thể và ưu tiên đào tạo nhân lực kỹ thuật chuyên sâu.
Để nâng cao hiệu quả liên kết đào tạo, Bộ Công Thương định hướng tăng cường hợp tác với doanh nghiệp trong đào tạo theo nhu cầu, đào tạo lại và nâng cao kỹ năng cho người lao động, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số, chuyển đổi xanh. Cùng với đó là đẩy mạnh phối hợp sử dụng cơ sở vật chất, trang thiết bị nghiên cứu, thực hành giữa các trường, viện nghiên cứu và doanh nghiệp; huy động chuyên gia doanh nghiệp tham gia giảng dạy, hướng dẫn thực hành và nghiên cứu ứng dụng.
Bộ Công Thương cũng xác định nhiệm vụ chuẩn hóa việc theo dõi các chỉ số tuyển sinh, học tập, tốt nghiệp, việc làm và phản hồi của người học, doanh nghiệp, làm cơ sở cải tiến chất lượng đào tạo. Đồng thời, tăng cường phối hợp giữa cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu và doanh nghiệp trong xác định nhu cầu nhân lực, tổ chức đào tạo và đánh giá kết quả, bảo đảm chương trình đào tạo phù hợp hơn với yêu cầu sử dụng lao động.
